ĐIỀU TRỊ VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG THEO ĐÔNG Y

  ĐIỀU TRỊ VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG THEO ĐÔNG Y

 

Lương y NGUYỄN CÔNG ĐỨC

Nguyên Giảng viên Đại học Y Dược TP.HCM

 

 

Bệnh loét dạ dày tá tràng với biểu hiện lâm sàng là đau vùng thượng vị cùng với một số rối loạn tiêu hóa, được xếp vào bệnh lý của Tỳ Vị với bệnh danh là Vị quản thống.

 

            THỂ CAN KHÍ PHẠM VỊ

1. Khí trệ (khí uất):

  a. Triệu chứng: Đau thượng vị từng cơn, tức hông sườn, đau lan ra sau lưng, bụng đầy chướng, cự án. Ợ chua. Lưỡi vàng. Mạch huyền.

  b. Phép trị: Sơ Can giải uất.

c. Bài thuốc:

Hương phụ   1 phần
Nghệ vàng   1 phần
Nga truật   1 phần

Tán bột mịn. Uống sau ăn ngày 3 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê.

 

Hương phụ

 

Nghệ vàng

 

Nga truật (Nghệ đen)

 

 

  d. Châm cứu:  Thái xung, Tam âm giao, Túc tam lý, Trung quản, Thiên xu, Can du, Tỳ du, Vị du.

 

2. Hỏa uất:

  a. Triệu chứng: Đau vùng thượng vị, nóng rát, cự án, miệng khô đắng, ợ chua. Chất lưỡi đỏ, rêu vàng. Mạch huyền sác.

  b. Phép trị: Thanh Can hòa Vị

  c. Bài thuốc:

Đinh lăng (lá phơi khô)   1 phần
Trần bì   1 phần
Nghệ vàng   1 phần
Nhân trần (hoa)   1 phần
Chi tử (sao vàng bỏ vỏ)   1 phần

Tán bột mịn. Uống sau ăn ngày 3 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê.

 

Đinh lăng

 

 

Trần bì

 

 

Nghệ

 

Nhân trần

 

Chi tử

 

  d. Châm cứu:  Các huyệt như chứng khí trệ, thêm Nội đình, Hợp cốc, Nội quan.

 

3. Huyết ứ: Đau dữ dội ở một vị trí nhất định vùng thượng vị, cự án. Chia ra làm 2 loại:

  a. Thực chứng:

  •     Triệu chứng: nôn ra máu, tiêu phân đen, môi lưỡi đỏ. Rêu vàng. Mạch huyền sác.
  • Phép trị: Lương huyết, chỉ huyết
  • Bài thuốc 1:
    Cỏ mực sao cháy đen tán bột mịn 30g
    Cỏ mực tươi 150g

Rửa sạch cỏ mực tươi, giã nát, thêm nước chín, vắt lấy nước cốt, trộn đều với bột cỏ mực sao cháy. Chia uống 3 lần trong ngày.

 

Cỏ mực

 

  • Bài thuốc 2:
    Rau muống tươi 100g

Rửa sạch, thêm nước chín, vắt lấy nước cốt, chia uống 3 lần trong ngày.

 

Rau muống

  •  
  •  Châm cứu: Châm tả các huyệt Can du, Tỳ du, Thái xung, Huyết hải, Hợp cốc.

  b. Hư chứng:

  • Triệu chứng: Người mệt mỏi, sắc mặt nhợt nhạt, chân tay lạnh, môi nhợt. Chất lưỡi bệu, có điểm ứ huyết. Mạch tế sáp.
  • Phép trị: Bổ huyết, chỉ huyết.
  • Bài thuốc:
    Lá sung tật tươi 100g (khô 20g)
    Lá đinh lăng tươi 100g (khô 20g)
    Gừng khô  20g
    Nghệ vàng  20g
    Cỏ mực sao cháy  20g

Sắc với 5 chén nước (1 lít) còn 1 chén rưỡi (300 ml). Chia 3 lần uống trong ngày.

 

Lá sung tật

 

Đinh lăng

 

Gừng khô

  •  
  • Châm cứu: Cứu các huyệt Can du, Tỳ du, Cao hoang, Cách du, Tâm du.

 

   THỂ TỲ VỊ HƯ HÀN

  • Triệu chứng: Đau vùng thượng vị liên tục, nôn nhiều ra nước trong, mệt mỏi, thích xoa dầu, xoa bụng. Sợ lạnh, chân tay lạnh, đại tiện lỏng, có lúc táo. Lưỡi nhợt, rêu trắng. Mạch hư tế.
  • Phép trị: Ôn trung kiện Tỳ
  • Bài thuốc kinh nghiệm:
    Gừng khô 2 phần
    Nghệ khô 2 phần
    Hương phụ 2 phần
    Đậu xanh (sao vàng) 2 phần
    Tiêu đen 1 phần
    Nếp (sao vàng) 2 phần

Tán bột mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê, sau ăn.

 

Đậu xanh

 

Tiêu đen, tiêu trắng

 

Nếp

  • Châm cứu: Cứu các huyệt Trung quản, Thiên xu, Tỳ du, Vị du, Quan nguyên, Khí hải, Túc tam lý.

 

Bài thuốc theo kinh nghiệm Dân gian dùng điều trị viêm loét Dạ dày Tá tràng dùng chung cho các thể, có HP ( Helicobacter pylori)  (+) : Rễ cây Bồ cu vẽ  (Quỷ họa phù),rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, tán bột mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê.

 

BỒ CU VẼ

 

Tên Khoa học: Breynia fruticosa (L.) Hook.f.

Tên tiếng Việt: Bồ cu vẽ; Sâu vẽ; dé bụi; đỏ đọt;vò vẽ; cu vẽ.
Tên khác: Andrachne fruticosa L.; Melanthesopsis fruticosa (L.) Muell.-Arg.;

Cây nhỏ, cao 1 – 2m, có thể đến 3 – 6m; cành non màu lục nhạt, không lông. Lá hình trứng hay hình mác dạng trứng, dài 2,5 – 4cm, rộng 2 – 3cm, dày, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt, thường có vết sâu bò thành đường ngoằn ngoèo; cuống lá dài 2 – 4 mm.

Hoa nhỏ, đơn tính, đực cái cùng gốc, không có bao hoa, mọc riêng lẻ hay xếp 3 – 4 cái thành xim co ở nách lá; đài hoa xẻ ở đỉnh thành 6 thùy; đài hoa của hoa đực hình con quay hay hình bán cầu; nhị 3, chỉ nhị dính; hoa cái có đài hoa trải ra cùng lớn với quả, màu nâu, bầu 3 ô, mỗi ô 2  noãn. Quả nang chất thịt, gần hình cầu, đường kính cỡ 6mm, nằm trên đài, màu hồng sẫm.

Loài của  Việt Nam, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaixia, Philippin. Ở nước ta, cây mọc phổ biến từ Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hòa Bình vào tới Khánh Hòa.

Cây ưa sáng, thường gặp trên các trảng, đồi trọc, vùng đồng bằng và vùng núi.

Mùa hoa tháng 4 – 9. Mùa quả tháng 6 – 11.

Dân gian dùng lá làm thuốc trị ghẻ và chữa rắn cắn, cũng dùng nấu nước rửa vết thương và mụn nhọt hoặc dùng tươi giã nát xoa nổi mẩn và viêm da.

Ở Trung Quốc, rễ cây và cành lá được sử dụng làm thuốc. Rễ dùng trị đau dạ dày ruột cấp tính, sưng amygdal, viêm khí quản, sỏi niệu đạo, sản hậu tử cung co lại buốt đau, viêm khớp do phong thấp và đầu mặt nóng đỏ. Còn cành lá được dùng trị vết bỏng cháy, mẩn ngứa, viêm da dị ứng, ngứa ngáy ngoài da, viêm âm đạo, đau bụng thổ tả,  mụn nhọt và đòn ngã sưng đau.

Cành lá chứa tanin có thể sử dụng làm thuốc nhuộm.

 

 

 

 

 

  • Ly. Nguyễn Công Đức

    Images

    Images