BỆNH LÝ GAN MẬT

 BỆNH LÝ GAN MẬT

 

Bs Nguyễn Trương Minh Thế

Giảng viên Khoa YHCT - ĐH Y Dược TP. HCM

 

           

Gan là một cơ quan của các  động vật có xương sống, bao gồm cả con người. Gan được xem là nhà máy hóa chất của cơ thể vì nó đảm trách cũng như điều hòa rất nhiều các phản ứng hóa sinh mà các phản ứng này chỉ xảy ra ở một số tổ chức đặc biệt của cơ thể mà thôi.

            Về mặt giải phẫu, gan là một cơ quan nội tạng lớn nhất và đồng thời một tuyến lớn nhất trong cơ thể. Gan chiếm khoảng 2% thân trọng, ở người trưởng thành thường nặng 1,4 - 1,6 kg, mềm, có màu đỏ sẫm.

Gan được cung cấp máu bởi hai mạch chính ở thùy phải:  động mạch gan và tĩnh mạch cửa (tĩnh mạch gánh). Động mạch gan thường bắt nguồn từ động mạch thân tạng. Tĩnh mạch cửa dẫn lưu máu từ lách, tụy và ruột non, nhờ đó mà gan có thể tiếp cận được nguồn dinh dưỡng cũng như các sản phẩm phụ của quá trình tiêu hóa thức ăn. Các tĩnh mạch gan dẫn lưu máu từ gan và đổ trực tiếp vào tĩnh mạch chủ dưới.

 


 

Mật sản xuất trong gan được tập trung tại các tiểu quản mật. Các tiểu quản này sẽ hội lưu với nhau tạo thành ống mật. Các ống mật sẽ đổ về ống gan trái hoặc ống gan phải. Hai ống gan này cuối cùng sẽ hợp nhất thành ống gan chung. Ống cổ túi mật (nối túi mật) vào ống gan chung và hình thành ống mật chủ. Mật có thể đổ trực tiếp từ gan vào tá tràng thông qua ống mật chủ hoặc tạm thời được lưu trữ trong túi mật thông qua con đường ống cổ túi mật. Ống mật chủ và ống tụy đổ vào tá tràng ở bóng Vater.

Gan là một trong số ít nội tạng của cơ thể có khả năng tái tạo lại một lượng nhu mô bị mất. Nếu khối lượng gan mất dưới 25% thì gan có thể tái tạo hoàn toàn. Điều này là do tế bào gan có khả năng đặc biệt như là một tế bào mầm đơn thẩm quyền (nghĩa là tế bào gan có thể phân đôi thành hai tế bào gan). Cũng có một số tế bào mầm song thẩm quyền gọi là các tế bào oval có thể biệt hóa thành tế bào gan và tế bào lót mặt trong ống mật.

Gan thực hiện hơn 500 chức năng khác nhau, đóng vai trò tích cực trong chuyển hóa các chất. Các chức năng tiêu biểu của gan gồm:

  • Sản xuất và tiết mật: Cần thiết cho quá trình tiêu hóa mỡ.
  • Chuyển hóa carbohydrate:
    • Tân tạo đường: Tổng hợp glucose từ một số amino acid, lactate hoặc glycerol.
    • Phân giải glycogen: Tạo glucose từ glycogen.
    • Tạo glycogen: Tổng hợp glycogen từ glucose.
    • Giáng hóa insulin và các hormone khác.
  • Chuyển hóa protein.
  • Chuyển hóa lipid:
    • Tổng hợp cholesterol
    • Sản xuât triglyceride.
  • Tổng hợp các yếu tố đông máu, fibrinogen (yếu tố I), thrombin (prothrombin), yếu tố V, yếu tố VII, yếu tố IX, yếu tố X và yếu tố XI cũng như protein C, protein S và antithrombin.
  • Giáng hóa hemoglobin tạo nên các sản phẩm chuyển hóa đi vào dịch mật dưới hình thức các sắc tố mật.
  • Chức năng chống độc: Gan có chức năng giữ các chất độc có hại cho cơ thể để thải trừ ra ngoài, hoặc biến những chất độc thành chất không độc. Chuyển ammonia (NH3 ) thành urea…
  • Chuyển hóa nước và điện giải.
  • Dự trữ rất nhiều chất khác nhau bao gồm: Glucose dưới dạng glycogen, vitamin B12, sắt và đồng…
  • Điều hoà lưu lượng máu và huyết động, trung bình trong 1 phút có khoảng 1500ml máu chảy qua gan. Trong ba tháng đầu tiên của thai kỳ, gan là nơi tạo hồng cầu chính cho thai nhi. Vào tuần thứ 32 của thai kỳ, tủy xương mới đảm nhận gần như toàn bộ chức năng này.
  • Tham gia vào quá trình miễn dịch: Hệ thống lưới nội mô của gan chứa rất nhiều tế bào có thẩm quyền miễn dịch hoạt động như một cái rây nhằm phát hiện những kháng nguyên trong dòng máu do tĩnh mạch cửa mang đến.

Hiện tại, không có một cơ quan nhân tạo nào có thể đảm trách được toàn bộ chức năng vô cùng phức tạp của gan. Chỉ một số chức năng có thể thực hiện được thông qua con đường nhân tạo như thẩm phân gan trong điều trị suy gan.

Như chúng ta đã biết, gan có vai trò rất quan trọng trong cơ thể, nó đảm nhiệm rất nhiều chức năng phức tạp và gan lại ở vị trí cửa ngõ của cơ thể nên dễ bị các chất độc ở ngoài tác hại. Sự phản ứng của gan đối với yếu tố gây bệnh cũng không đơn thuần và ngoài nhu mô gan, còn có tổ chức võng nội mô, còn có tuần hoàn tại gan, còn có ống dẫn mật, những bộ phận này liên quan chặt chẽ với nhau. Lúc đầu, có thể chỉ có một bộ phận bị tổn thương, nhưng chẳng bao lâu sẽ kéo theo bộ phận khác vào vòng bệnh lý. Đó là đặc điểm nổi bật trong hoạt động của gan.
            Một đặc điểm nữa không kém phần quan trọng là nếu tổ chức gan rất dễ bị tổn thương, thì nó có khả năng hoạt động bù và tăng sinh rất mạnh. Ngoài ra, trong cơ thể còn có một số tổ chức khác cũng có một số chức năng khác cũng giống như gan (chuyển hóa của tổ chức thận, sinh tổng hợp kháng thể cuả tổ chức võng nội mô…). Điều nay làm cho sự nghiên cứu chức năng gan và đánh giá kết quả xét nghiệm thêm khó khăn. Thường thì chỉ những tổn thương thực thể ở gan đã khá quan trọng thì rối loạn chức năng mới rõ ràng.
            Cho nên, trong ngiên cứu sinh lý bệnh gan, cần lần lượt nghiên cứu từng chức năng một, nhưng như thế không có nghĩa là tách riêng mà luôn luôn phải nhớ là chúng có liên quan chặt chẽ với nhau.

Một số bệnh lý ở gan, mật:

  • Viêm gan (Hepatitis) là tổn thương tại gan với sự có mặt của các tế bào bị viêm trong mô gan. Tình trạng bệnh có thể là tự khỏi hoặc có thể phát triển tới việc gây sẹo tại gan. Viêm gan cấp tính là khi bệnh chỉ kéo dài dưới 6 tháng, còn viêm gan mạn tính là khi bệnh kéo dài hơn. Các nguyên nhân gây ra viêm gan gồm có các virus, chất độc (rượu, nhiễm độc chì, phospho, thuốc mê…), vi khuẩn (coli, lao, giang mai), ký sinh trùng (sốt rét, sán lán gan…), hoặc từ quá trình tự miễn  (autoimmune).


  •  
  • Xơ gan là sự hình thành tổ chức xơ trong gan thay thế cho nhu mô gan bị chết. Nguyên nhân gây chết tế bào gan có thể kể như viêm gan virus, ngộ độc rượu hoặc một số hóa chất độc hại với gan khác.
  •  

 

  •  
  • Nhiễm huyết sắc tố là một bệnh di truyền gây nên sự tích trữ sắt trong cơ thể và cuối cùng có thể đưa đến tổn thương gan.
  •  
  • Ung thư gan: Ung thư gan tiên phát hoặc ung thư đường mật và ung thư di căn, thường là từ ung thư của đường tiêu hóa.
  •  


  •  
  • Bệnh Wilson: Một bệnh lý di truyền gây nên sự tích trữ đồng (Cu) quá mức trong cơ thể.
  •  
  • Hội chứng Budd-Chiari: Tắc nghẽn tĩnh mạch gan.
  •  
  • Hội chứng Gilbert: Một rối loạn di truyền của quá trình chuyển hóa bilirubin, hiện diện khoảng 5% dân số.
  •  
  • Viêm đường mật xơ hóa tiên phát: Một bệnh lý viêm của đường mật có bản chất tự miễn.
  •  
  • Xơ gan mật tiên phát: Bệnh tự miễn của các đường dẫn mật nhỏ.
  •  
  • Sỏi mật: Do mật bị cô đặc lại thành cục, lúc đầu mật đặc như bùn, rồi thành những hạt nhỏ trước khi thành sỏi. Những thành phần của mật (cholesterol, sắc tố mật, muối mật, canxi) đều có thể trở thành sỏi. Sỏi cholesterol rất phổ biến. Hay gặp hơn cả là sỏi hỗn hợp. Đáng chú ý là ở giữa sỏi mật, có khi thấy trứng giun đũa, trong ống mật có khi thấy xác giun, rất có thể giun làm cho sỏi dễ phát sinh. Số lượng sỏi mật có thể ít hoặc nhiều: một hai sỏi to hoặc hàng trăm sỏi nhỏ.

 


 

Khi bệnh nhân có vấn đề về gan mật, các phương pháp điều trị được đề ra, trong đó có những phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc (châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, dưỡng sinh).

 

Do tất cả các thuốc đều được chuyển hóa qua gan vì vậy gan cũng là cơ quan dễ bị tổn thương nhất. Khi bệnh nhân bị bệnh gan mật dùng thuốc phải theo một số nguyên tắc sau:

 

  • Tránh dùng các thuốc gây độc cho gan kể cả thuốc Đông y hay thuốc Tây y. Một số thuốc làm cho bệnh gan nặng lên (thuốc an thần, thuốc giảm đau paracetamol, thuốc điều trị lao...).
  •  
  • Cần làm các xét nghiệm chức năng gan để chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh trước khi dùng thuốc.
  •  
  • Thường xuyên theo dõi sát quá trình sử dụng thuốc để ngừng hoặc điều chỉnh liều kịp thời tránh nguy hiểm cho người bệnh.
  •  
  • Không dùng thuốc không rõ nguồn gốc.
  •  
  • Không tự ý dùng thuốc, cần phải có sự chỉ định và theo dõi của thầy thuốc chuyên khoa.
  •  
  • Khi gan bị tổn thương do các nguyên nhân dẫn đến thay đổi men gan, giảm sút chức năng gây hoại tử, xơ gan, ung thư gan, phải tìm nguyên nhân để dùng thuốc điều trị. Ví dụ: viêm gan do virus thì phải dùng thuốc ức chế việc nhân lên của virus. Nhiễm độc gan do hóa chất, do dùng thuốc phải ngừng tiếp xúc, ngừng dùng và tìm các thuốc giải độc đặc hiệu. Bên cạnh các thuốc chống lại hoặc kìm chế các nguyên nhân còn có các thuốc hỗ trợ chức năng gan nhưng mỗi thuốc cũng có một số nét riêng. Trong mỗi trường hợp cụ thể cần chọn dùng một loại thích hợp. Không nên xem là thuốc bổ gan chung chung mà dùng tùy tiện vì các thuốc này không thể thay thế được các thuốc điều trị nguyên nhân.

 

  • Ly. Nguyễn Công Đức

    Images

    Images