Đông Dược Công Đức

kiến thức đông y ; phòng đông y quận 2 ; mỹ phẩm đông y ; thuốc thiên nhiên đông dược công đúc

sách về thuốc đông y ,cây thuốc đông y , bài thuốc đông y, thưc phẩm chức năng , sách y học đông y ,

Đông Dược Công Đức

Đông Dược Công Đức
Đông Dược Công Đức
Chi tiết bài viết

QUẢNG ĐÔNG LƯƠNG TRÀ

QUẢNG ĐÔNG KHOA KỸ XUẤT BẢN XÃ

TẦN DIỄM PHẤN CHỦ BIÊN

CÓ SỮA CHỮA VÀ BỔ SUNG

PHẦN NỘI KHOA

CẢM MẠO

Bài 1Lục cúc trà

Công thức:

Đậu xanh 50g, Cúc hoa 15g, Lá Trà 10g.

Chủ trị:

Cảm do phong nhiệt các chứng còn nhẹ chủ yếu là đau đầu, miệng khô khát, họng đau.v.v.

Công hiệu:

Sơ phong thanh nhiệt giải độc.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, lấy đậu xanh giã nát đổ 4 chén nước thêm Mật táo hoặc đường phèn cho vào nấu chung, nấu còn 2 chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Cảm do phong hàn, người tỳ vị hư hàn, tiêu chảy thì không dùng.

Lời bình:

Ba vị thuốc trong bài đều có vị ngọt tính mát, Cúc hoa có tác dụng sơ phong, thanh nhiệt, minh mục, Đậu xanh có tác dụng thanh nhiệt, giải thử, sinh tân, Lá Trà có tác dụng thanh lợi, sinh tân, chỉ khát, tiêu thực trừ nê trệ. Nói về màu sắc thì màu xanh có thể làm thanh tâm, nhuận phế, điều nhiệt; Màu đỏ làm khoan khoái trung tiêu, lý tỳ vị. Các vị thuốc được chọn trong bài đều có tác dụng thanh giải thử nhiệt, cho nên dùng bài Lục trà là tốt nhứt.

Bài 2: Tang cúc tỳ bà trà

Công thức:

Tang diệp 15g, Cúc hoa 20g, Tỳ bà diệp 20g.

Chủ trị:

Phòng và chữa cảm mạo. Dùng chữa cảm do phong nhiệt với các triệu chứng như đau đầu, mắt khô rít, tiếng ho không thoải mái, hầu họng sưng đau.

Công hiệu:

Sơ tán phong nhiệt, nhuận phế chỉ khái.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 4 chén nước vào ngâm chung với thuốc một lúc cho ngấm, bắc lên bếp dùng lửa to nấu còn 2 chén, chia ra 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Cảm do phong hàn, ho do phế hư thì không dùng bài này.

Lời bình:

Cúc hoa, Tang diệp đều có tác dụng sơ phong thanh nhiệt, thanh can minh mục; Tỳ bà diệp nhuận phế chỉ khái. Cả 3 vị thuốc dùng chung với nhau có tác dụng sơ phong thanh nhiệt, nhuận phế chỉ khái.

Nếu đau họng gia Huyền sâm 15g; Cầu bón gia Đông qua nhân 20g.

Bài 3: Hạ Tang Cúc

Công thức:

Hạ khô thảo 15g, Tang diệp 15g, Cúc hoa 15g.

Chủ trị:

Chữa cảm phong nhiệt,với các triệu chứng chủ yếu là mắt đỏ, đau đầu, ù tai, miệng đắng, hầu họng sưng đau, ho. Cũng có thể kèm có Cao huyết áp, ung nhọt độc. Đều có thể uống loại trà có tác dụng thanh lương.

Công hiệu:

Thanh can minh mục, sơ phong tán nhiệt, giải sang độc.

Cách dùng:

Mỗi ngày uống từ 1-2 thang, đổ 3 chén nước nấu còn 1 chén, uống ấm. Trà hòa tan: mỗi lần 1-2 gói, mỗi ngày 3 lần.

Cấm kỵ:

Người cảm do phong hàn, cơ thể suy nhược cao huyết áp không nên uống trà này.

Lời bình:

Các vị thuốc trong bài là Hạ khô thảo, Tang diệp, Cúc hoa đều có tác dụng thanh can nhiệt, bình can dương, giải sang độc; Trong đó Hạ khô thảo còn có khả năng tán uất kết, Tang diệp, Cúc hoa còn có thể sơ tán phong nhiệt. các vị thuốc trên khi dùng chung với nhau vừa có thể thanh can nhiệt, sơ phong nhiệt, lại còn có thể giải sang độc, mà còn có tác dụng bình can tiềm dương. Dùng chữa cao huyết áp thể can dương thượng kháng với các triệu chứng như đau đầu, miệng đắng.

Nếu họng đau nhiều gia Huyền sâm 15g, Sinh Địa hoàng 15g; Đau đầu gia Mạn kinh tử 12g; Mắt đỏ gia Mộc tặc 10g; Ho gia Kiết cánh 12g, Hạnh nhân 12g; huyết áp cao gia Câu đằng 25g (cho vào sau).

Bài 4: Phong nhiệt cảm mạo trà

Công thức:

Kim ngân hoa 20g, Liên kiều 15g, Kiết cánh 12g, Lô căn 20g, Cam thảo 6g

Chủ trị:

Chữa các chứng cảm do phong nhiệt gây ra phát sốt, đau đầu, có mồ hôi, nghẹt mũi, chảy mũi nước, miệng khô khát, hầu họng sưng đỏ đau, ho đàm vàng đặc, rêu vàng mỏng, mạch phù sác.

Công hiệu:

Tân lương giải biểu, thanh phế thấu nhiệt.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1thang, đổ 3 chén nước nấu còn 1 chén uống từ từ sau bữa ăn.

Cấm kỵ:

Người bị cảm do phong hàn không nên dùng bài này. Phụ nữ có thai thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Trong bài Kim ngân, Liên kiều có tác dụng tân lương giải biểu, dẫn nhiệt ra ngoài; Kiết cánh, Cam thảo tuyên phế khử đàm, lợi yết tán kết; Lô căn cam lương khinh thanh có thể thanh nhiệt sinh tân để chỉ khát.

Nếu đầu đau nhiều gia Tang diệp 12g, Cúc hoa 15g, để Thanh lợi đầu mục; Ho đàm nhiều gia Hạnh nhân 12g, Triết bối mẫu 15g, Qua lâu bì 12g để chỉ khái hóa đàm; Hầu họng sưng đau nhiều gia Bản lam căn 20g, Mã bột 10g, Huyền sâm 15g để thanh nhiệt giải độc lợi yết.

Bài 5: Thanh giải thoái nhiệt trà

Công thức:

Đảo khấu thảo 15g, Liên kiều 15g, Lô căn 20g, Bạch mao căn 15g, Thanh thiên quỳ 12g, Huyền sâm 15g.

Chủ trị:

Chữa các chứng cảm nặng do phong nhiệt các chứng thể hiện là sốt cao không lui, đau đầu, họng đỏ sưng đau, nặng thì hạch amidan hóa mủ, miệng đắng khô, tiểu vàng, cầu bón, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch phù sác.

Công hiệu:

Thanh giải thoái nhiệt lợi yết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, thể chất khỏe các triệu chứng nặng thì có thể uống mỗi ngày 2 thang. Đổ 3 chén nước nấu còn 1 chén, uống từ từ sau khi ăn.

Cấm kỵ:

Bài này dược lực rất mạnh, phụ nữ có thai cấm dùng, người thể chất yếu hoặc chức năng của tỳ vị kém thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Đảo khấu thảo, Thanh thiên quỳ đều có tác dụng giải biểu thoái nhiệt, thuốc có dược lực mạnh, cả hai đều dùng chung với nhau công hiệu tăng gấp bội; Liên kiều, Lô căn, Huyền sâm có tác dụng thanh nhiệt lợi yết, giải độc tán kết; Bạch mao căn thanh nhiệt lợi niệu, làm cho nhiệt độc theo đó mà ra. Các vị cùng phối hợp cùng tấu thanh giải thoái nhiệt, lợi yết tán kết.

Bài 6Âm hư cảm mạo trà.

Bài thuốc:

Ngọc trúc 15g, Đạm đậu xị 10g, Cát cánh 12g, Thanh hao 10g, Bạch vi 10g. Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Âm hư cảm mạo gây đau đầu, sốt, hơi sợ gió sợ lạnh, có mồi hôi ít hoặc không có mồ hôi. Chóng mặt tâm phiền, miệng khô họng khát, lòng bàn tay chân nóng, ho khan ít đàm, lưỡi đỏ, mạch tế sác.

Công hiệu:

Tư âm giải biểu.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 3 chén sắc còn 1 chén uống ấm.

Cấm kỵ:

Người cảm phong hàn hoặc thể chất vốn có dương hư mà bị cảm mạo thì không dùng bài này.

Lời bình:

Vị Ngọc trúc trong bài có tác dụng tư âm sinh tân, để hổ trợ nguồn mồ hôi (hãn nguyên); Đạm đậu xị, Kiết cánh có tác dụng phát hãn để tán ngoại tà; Thanh hao, Bạch vi có tác dụng thanh thấu hư nhiệt mà hòa âm; Cam thảo vị ngọt nhuận có tác dụng đều hòa trung tiêu, có thể hổ trợ Ngọc trúc để làm tăng tiết dịch. Các vị dùng chung với nhau cùng có công dụng dưỡng âm thanh nhiệt, phát hãn giải biểu.

Nếu ho có đàm nhưng khạc ra khó khăn, có thể gia qua lâu bì 12g, ngưu bàng tử 10g, để lợi yết hóa đàm; Tâm phiền khát nước nhiều gia đạm trúc diệp 10g, Thiên hoa phấn 12g, để thanh nhiệt trừ phiền, sinh tân chỉ khát.

Bài 7Đại chúng phòng cảm trà

Bài thuốc:

Đại thanh diệp 30g, Quán chúng 30g, Bản lam căn 30g.

Chủ trị:

Phòng ngừa cảm mạo.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi yết, chống cảm mạo.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 4 chén nước nấu còn 2 chén uống thay nước trà.

Cấm kỵ:

Người thể chất hư nhược kông có thực nhiệt thì thận trọng khi dùng, phụ nữ có thai thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Đại thanh diệp, Bản lam căn thì thân rễ khô và cành lá của cây Bản lam cùng có công dụng như nhau, đều có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết lợi yết. Nghiên cứu dược lý của Y Học hiện đại đã nêu rõ rằng cả 2 vị trên cùng có tác dụng kháng khuẩn, kháng virus. Đối với cảm do virus có tác dụng ức chế rõ rệt. Quán chúng có tác dụng thanh nhiệt lương huyết, đối với cảm do virus thì có tác dụng ức chế mạnh hơn. 3 vị cùng dùng chung thì có tác dụng kháng virus rõ rệt, chống cảm phòng ngừa và chữa trị cảm có hiệu quả. Đây là bài thuốc chữa cảm có hiệu quả.

CẢM CÚM

Bài 1Lương giải trà

Bài thuốc:

Bạc hà 10g, Thuyền thoái 10g, Đại thanh diệp 15g, Cam thảo 5g.

Chủ trị:

Cảm do phong nhiệt uất kết. Các triệu chứng xuất hiện là phát sốt, đau đầu, hơi có mồ hôi, miệng khát, mạch phù sác.

Công hiệu:

Tân lương giải cơ, tán phong thanh nhiệt.

Cách dùng:

Mỗi ngày 2 thang, sắc lấy nước chia ra uống sáng chiều. Mỗi thang đổ 3 chén sắc còn 1chén, uống sau khi ăn lúc ấm.

Cấm kỵ:

Người thể chất suy nhược bị cảm mạo không nên dùng bài này. Phụ nữ có thai thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Mới bị cảm các triệu chứng còn nhẹ, mau trục tà ra ngoài. Trong bài dùng Bạc hà, Thuyền thoái có vị cay mát có tác dụng sơ tiết phong tà, khinh thanh tuyên thấu, phát biểu giải cơ; Đại thanh diệp có tác dụng thanh giải virus cảm; Cam thảo có tác dụng hoãn giải hòa trung. Các vị dùng chung với nhau làm cho dược lực của thuốc từ từ phát huy, từ từ thấu tiết, thành bài thuốc thanh lương tiết nhiệt.

Bài 2: Lưu cảm thanh giải trà

Bài thuốc:

Quán chúng 20g, Bản lam căn 20g, Áp chích thảo 10g, Cam thảo 6g,

Chủ trị:

Chữa cảm cúm các triệu chứng thấy là đau đầu, phát sốt, toàn thân đau mõi phát sốt, miệng khát, đau họng, mạch phù.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, chống cảm cúm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang. Bệnh nặng, cơ thể khỏe mỗi ngày uống 2 thang. Đổ 3 chén nước nấu còn 1 chén uống ấm.

Cấm kỵ:

Người suy nhược không có phát sốt thì không dùng bài này. Có thai thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Cảm cúm thường có các triệu chứng đặc trưng là sốt cao, đau đầu, hầu họng sưng đau. Phép trị nên thanh nhiệt giải độc lợi yết. Trong bài dùng Bản lam căn, Quán chúng đều có tác dụng thanh nhiệt giải độc, nghiên cứu của dược lý hiện đại đã cho thấy rõ Bản lam căn và Quán chúng đều có tác dụng kháng khuẩn, tiêu viêm, kháng virus cảm cúm. Đặc biệt là Quán chúng, tác dụng kháng virus cảm của Quán chúng càng thấy rõ; Áp chích thảo vị ngọt nhạt, tính hơi hàn. Công năng thanh nhiệt giải độc đã được dược lý nghiên cứu nêu rõ, Áp chích thảo có tác dụng hạ sốt rõ rệt.  Đối với chứng sốt cao do cảm nhiệt hoặc thực nhiệt gây ra thì hiệu quả càng tốt hơn; Cam thảo điều hòa chư dược. Các vị dùng chung có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hạ sốt chống cảm cúm.

Bài 3: Ngân bản lưu cảm trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 15g, Bản lam căn 20g, Đại thanh diệp 15g, Quán chúng 20g, Cang mai căn 20g.

Chủ trị:

Chữa các chứng phát sốt, đau đầu, xương khớp toàn thân đau nhức, nghẹt mũi chảy nước mũi, đau họng, miệng đắng, rêu vàng mạch phù sác do cảm nhiệt. Có tác dụng ngừa và chữa cảm cúm rất tốt.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc,chống cảm cúm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 4 chén nước sắc còn 1 chén. Sốt cao cơ thể khỏe thì uống mát, sốt cao trường vị yếu thì uống ấm.

Cấm kỵ:

Người sức khỏe yếu mà bị cảm thì không nên chọn dùng bài này, tỳ vị hư hàn thì không dùng. Phụ nữ có thai thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Do vệ khí không đủ để ngăn chặn ngoại tà xâm nhập từ bên ngoài vào, virus cảm cơ thể, cơ thể chống lại sự xâm nhập của virus nên gây ra sốt; nhiệt tà sau khi vào cơ thể uất lại ở phế, thượng khiếu không thông nên sinh ra nghẹt mũi, chảy mũi nước, ho khạc; Nhiệt tà gây nghẽn tắc mạch lạc ở hầu họng; Nhiệt tà gây viêm nhiễm bên trên, thượng khiếu không thông thì gây nhức đầu. Trị nên thanh nhiệt giải độc, chống cảm cúm. Trong bài dùng vị Bản lam căn, Đại thanh diệp có vị đắng lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, chống cảm cúm; Quán chúng, Kim ngân hoa thanh nhiệt tả hỏa giải độc; Cang mai căn lợi yết tán kết, chữa đau họng. các vị cùng dùng chung với nhau có tác dụng phòng chống cảm cúm rất có hiệu quả.

Bài 4: Ban sa trà

Bài thuốc:

Thiên hoa phấn 10g, Mẫu đơn bì 10g, Bạc hà 10g, Địa cốt bì 10g, Sơn chi tử 10g, Huyền sâm 10g.

Chủ trị:

Các chứng cảm phát sốt về đêm nhiều, khát muốn uống mát, tâm phiền không ngủ, có khi nói nhảm, ban chẩn nổi lờ mờ, chảy máu mũi hoặc trong đàm có lẩn máu, lưỡi đỏ mạch tế sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, lương huyết tiêu ban.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 3 chén nước nấu còn 1 chén, uống ấm.

Cấm kỵ:

Nên lễ ban, lại dùng bài này, Cử ăn gừng tỏi các thức ăn cay nóng. Phụ nữ có thai thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Bài này là bài thuốc hay do Hoa Đà sáng chế chữa “ban sa” mà có. Nguyên nhân là do virus cảm không được giải trừ tận gốc, nên độc tà chuyển nhập vào doanh huyết phận mà gây ra ban chẩn. Mẫu đơn bì có thể thanh phục nhiệt trong huyết, dùng chung với bạc hà để thấu nhiệt chuyển khí; Thiên hoa phấn dưỡng âm sinh tân; Huyền sâm thanh lợi yết hầu; Chi tử lương huyết giải độc; Địa cốt bì thanh dinh thấu nhiệt tà. Các vị cùng phối dùng có tác dụng thanh nhiệt hòa doanh mà tà nhiệt được đưa ra ngoài, lương huyết giải độc mà ban chẩn tự tiêu.

Nếu ban chẩn nhiều gia Sinh địa hoàng 20g để thanh dinh tiết nhiệt; Sốt nhiều gia Kim ngân hoa 15g để thanh dinh hóa độc.

CẢM NẮNG, TRÚNG NẮNG

Bài 1: Hà diệp biển đậu trà

Bài thuốc:

Bạc hà 1nắm, Biển đậu 30g.

Chủ trị:

Cảm thử thường xuất hiện các triệu chứng như người uể oải, lừ đừ, lòng ngực bực bội, miệng khô họng ráo, rêu vàng nhờn, mạch nhu.

Công hiệu:

Thanh thử lợi thấp.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 – 2 thang, trước tiên ngâm Biển đậu khoảng 20 phút, đổ 3 chén nước sạch cùng nấu chung với Bạc hà, sắc còn 1 chén, uống thay nước trà uống từ từ.

Cấm kỵ:

Người vốn có dương hư, tỳ vị hư hàn không nên dùng bài này.

Lời bình:

Bạc hà có tác dụng thanh thử lợi thấp mà phát thanh dương, Biển đậu hóa thấp tiêu thử. 2 vị cùng dùng chung với nhau đã có tác dụng thanh thử mà lại còn lợi thấp, dùng chữa cảm nắng và thử thấp gây tiêu chảy. Bài này thêm ít gạo nấu thành 2 cháo ăn.

Bài 2: Khử thấp trà (hoặc cháo)

Bài thuốc:

Mộc miên hoa 10g, Đăng tâm thảo 10 cọng, Tỳ giải 10g, Ý dĩ nhân 30g, Biển đậu 30g, Liên phòng 1-2 cái.

Chủ trị:

Phòng trúng nắng, cũng dùng chữa các triệu chứng của cảm nắng nhẹ như người mệt mõi uể oải, miệng khô, lòng ngực bức rứt.

Công hiệu:

Thanh thử nhiệt, lợi thấp trệ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 6 chén nước thêm 500g bí đao, nấu còn 2 chén uống dần hoặc thêm gạo nấu thành cháo ăn.

Cấm kỵ:

Người vốn có dương hư, tỳ vị hư hàn không nên dùng bài này, phụ nữ có thai thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Vào ngững ngày nóng bức khi cảm phải thử tà thì phần nhiều hay thấy lòng ngực bức rứt, người mệt mõi, miệng khô, ăn uống uể oải. phép trị nên thanh thử lợi thấp. Trong bài dùng Mộc miên hoa, Tỳ giải có tác dụng thanh thấp nhiệt, lợi thấp trọc; Liên phòng tiêu thử thanh nhiệt; Đăng tâm hoa thanh tả tâm hỏa; Ý dĩ nhân, Biển đậu tiêu thử lợi thấp. Các vị cùng dùng chung với nhau, làm cho thấp tà được trừ, thử nhiệt được thanh. Dân gian thường dùng “cháo khử thấp” là dùng bài thuốc trên thêm gọ nấu thành cháo ăn.

Bài 3: Ngân hà giải thử trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 15g, Bạc hà 10g, Tây Qua thúy y (lớp vỏ xanh dưa hấu) 20g, Nam đậu hoa 10g, Thanh hao 10g, Đạm trúc diệp 10g.

Chủ trị:

Thử nhiệt uất bên trong thì toàn thân nóng bỏng, mồ hôi dâm dấp, mặt đỏ, nặng đầu, cơ thể nặng nề, tâm phiền miệng khát, tiểu vàng, mạch nhu sác.

Công hiệu:

thanh thử tiết nhiệt, giải biểu hóa thấp.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén, uống ấm.

Cấm kỵ:

Người vốn có dương hư, tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này. Phụ nữ có thai thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Trung y cho rằng thử thường có kèm thấp, thử nhiệt bên trong mà thấp uất bên ngoài có thể thấy toàn thân nóng bỏng, mồ hôi ra dâm dấp, mặt đỏ đầu nặng, tâm phiền khát nước, tiểu vàng. Chữa nên giải biểu hóa thấp, thanh thử tiết nhiệt. Trong bài Kim ngân hoa có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lương tán phong nhiệt, dược lý hiện đại nghiên cứu trên thực nghiệm phát hiện Kim ngân hoa có tác dụng hạ sốt trên động vật; Bạc hà, Tây qua thúy y có tác dụng thanh giải thử nhiệt; Nam đậu hoa, Thanh hao có tácdụng giải biểu hóa thấp, thúc thử tà ra ngoài; Đạm trúc diệp lợi tiểu thanh nhiệt. Các vị thuốc cùng dùng chung có thể làm cho thử nhiệt theo đường mồ hôi mà giải ra ngoài cơ thể. Cũng có thể làm cho thử thấp theo đường tiểu mà ra ngoài. Sẽ thu được hiệu quả thanh thử hóa thấp tiết nhiệt.

Bài 4: Thanh thử lợi thấp trà

Bài thuốc:

Hỏa thán mẫu 20g, Bạch đầu ông 20g, Mã xỉ hiện 12g, Ý dĩ nhân 30g, Hậu phác 10g, Cát căn 20g.

Chủ trị:

Thử thấp ngăn trở trường vị gây sốt, nôn mữa, tâm phiền  khát nước, đau bụng tiêu chảy, phân hôi thối, tiểu tiện vàng ngắn.

Công hiệu:

Thanh thử lợi thấp, chỉ tả.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nấu còn 1 chén; nước 2 đổ 2 chén nấu còn ½ chén hòa lại chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Người vốn có dương hư tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này. Phụ nữ có thai Thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Thử thấp vây hãm trường vị, chức năng của trường vị bị rối loạn nên thấy nôn mữa, tâm phiền miệng khát, bụng đau tiêu chảy, phân hôi thối, tiểu vàng ngắn. Phép chữa nên thanh thử lợi thấp, lý trường vị mà chỉ tả. Trong bài dùng hỏa thán mẫu, Bạch đầu ông, Mã xỉ hiện đều có tác dụng thanh trường lợi thấp chỉ tả; Hậu phác hành khí tán thấp; Cát căn thanh thăng dương, giáng thấp trọc mà chỉ tả; Ý dĩ nhân lợi thấp mà chỉ tả. Các vị cùng dùng chung lý trường vị mà lợi thấp trọc. Nếu  bụng trướng nhiều gia đại phúc bì 10g, để hổ trợ công hiệu hành khí; ăn uống không biết ngon gia Sơn tra 15g, Mạch nha 30g để tiêu thực đạo trệ.

Bài 5: Thanh thử ích khí trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 20g, Mạch môn 15g, Đạm trúc diệp 10g, Hà cánh (cọng sen)10g, Thạch hộc 10g.

Chủ trị:

Chữa thử nhiệt làm tổn thương tân dịch gây sốt, Miệng khô tâm phiền, tự ra mồ hôi không dứt, khí đoản tinh thần mệt mõi tay chân uể oải.

Công hiệu:

Thanh điều thử nhiệt, ích khí sinh tân.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 5 chén nước thêm 1 nắm gạo, sắc còn 2 chén uống thay nước trà.

Cấm kỵ:

Người vốn có dương hư thì không dùng, Tỳ vị hư nhược không nên dùng bài này.

Lời bình:

Thái tử sâm, Mạch môn, Thạch hộc cả 3 vị đều có tác dụng tư âm thanh nhiệt, tư dưỡng phế âm mà sinh tân; Đạm trúc diệp có tác dụng thanh tâm trừ phiền; Hà cánh khử thử nhiệt còn sót lại. Các vị phối dùng với nhau có tác dụng thanh thử nhiệt, khôi phục khí và tân dịch bị tổn thương. Nếu mồ hôi khó cầm, hụt hơi nhiều dùng Tây dương sâm thay cho Thái tử sâm để tăng công năng ích khí, liễm hãn.

VIÊM KHÍ QUẢN CẤP, MẠN TÍNH

Bài 1: Nam bắc hạnh thái can thang

Bài thuốc:

Nam Hạnh nhân 20g, Bắc Hạnh nhân 10g, Bạch thái can 30g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa ho do phong nhiệt hoặc táo nhiệt phạm phế, đàm ít, lưỡi đỏ, mạch sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt nhuận phế chỉ khái.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 5 chén nước sắc nhỏ lửa còn 2 chén, chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Người phế hư ho do hàn thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Nam Hạnh nhân có vị ngọt tính bình, còn gọi là Điềm Hạnh nhân hạt của nó lớn hơn hạt Bắc Hạnh nhân. Được dùng để ăn, làm thuốc. có tác dụng nhuận phế khu đàm, chỉ khái bình suyễn; Bắc Hạnh nhân còn gọi là Khổ Hạnh nhân, công năng tuyên phế chỉ khái của nó mạnh hơn nam Hạnh nhân. Cả hai đều dùng chung có tác dụng hóa đàm chỉ khái. Khổ Hạnh nhân tức Bắc Hạnh nhân có thể phân giải sản sinh acide xianogen, lượng nhỏ acide xianogen có tác dụng trấn khái bình suyễn. Nhưng nếu dùng quá liều (trẻ em từ 20 – 40 hạt, người lớn 40 – 60 hạt) luôn cả vỏ, đầu nhọn sẽ xuất hiện các triệu chứng ngộ độc như chóng mặt, môn mữa, tiêu chảy, đau bụng, vùng bụng trên có cảm giác nóng như lửa đốt, hơi thở tăng nhanh. Vì thế khi vận dụng nên nắm vững liều lượng. Thường mỗi người mỗi lần uống không quá 15g (trẻ em ½ liều) là được và phải bỏ vỏ, đầu nhọn mới tốt.

Bạch thái (cải trắng) vị ngọt tính bình, có tác dụng thanh nhiệt trừ phiền, thanh táo nhuận phế; Mật táo vị ngọt làm nhuận phế. Cả 4 vị cùng dùng thì có hiệu quả tốt đối với chứng ho đàm ít hoặc đàm vàng, họng khô, lòng ngực phiền nhiệt do phế nhiệt. Khẩu vị ngon miệng người già dễ tiếp thu, cũng có thể nấu với thịt heo hoặc phổi heo lấy nước uống rất tốt.

Bài 2: Tang cúc lô căn trà

Bài thuốc:

Tang diệp 15g, Cúc hoa 15g, Cát cánh 12g, Hạnh nhân 10g, Liên kiều 10g, Lô căn 20g.

Chủ trị:

Chữa các chứng viêm phế quản cấp thuộc thể phong nhiệt phạm phế mhư: Ho, tiếng ho nặng hoặc đàm vàng hơi thở ồ ồ, sốt không cao, đổ mồ hôi, miệng hơi khát, họng đau, tiểu vàng, mạch phù sác.

Công hiệu:

Sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế chỉ khái.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén. Uống ấm.

Cấm kỵ:

Ho do phong hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Tang diệp, Cúc hoa có tác dụng tân lương thanh thấu, sơ phong thanh nhiệt; Hạnh nhân, Cát cánh tuyên giáng phế khí, chỉ khái hóa đàm; Liên kiều thanh tâm tiết nhiệt; Lô căn thanh nhiệt sinh tân chỉ khát. Các vị cùng dùng chung với nhau có tác dụng sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế chỉ khái.

Bài 3: Đông hoa tỳ bà trà

Bài thuốc:

Khoản đông hoa 12g, Tỳ bà diệp 15g, Mật ong vừa đủ.

Chủ trị:

Chữa các chứng viêm phế quản cấp mạn tính thuộc thể đàm nhiệt ngăn trở phế. Chứng thấy ho khạc đàm, nặng thì suyển thở, lưỡi đỏ mạch phù sác.

Công hiệu:

Thanh táo nhuận phế, hóa đờm chỉ khái.

Cách dùng:

Lấy 2 vị Tỳ bà diệp và Khoản đông hoa chích với mật ong, đổ 3 chén nước nấu còn 1 chén uống dần.

Cấm kỵ:

Chứng ho hàn do phế hư, hen suyển do phế hư không nên dùng bài này.

Lời bình:

Tỳ bà diệp vị đắng tính hơi hàn có tác dụng chỉ khái hóa đàm nhuận phế. Rất thích hợp đối với chứng ho suyển đàm nhiều do phế nhiệt; Khoản đông hoa có tác dụng nhuận phế hạ khí, chỉ khái hóa đờm, đối với chứng ho suyển mới phát hay phát đã lâu đều có hiệu quả rất tốt; Mật ong nhuận táo hoãn cấp; Tỳ bà diệp, Khoản đông hoa sau khi chích mật ong có thể tăng cường tính nhuận phế chỉ khái. Cả 3 vị cùng dùng đều có tác dụng thanh táo nhuận phế, hóa đàm chỉ khái.

Bài 4: La hán song nhân trà

Bài thuốc:

La hán quả 1 trái, Long lợi diệp 15g, Bắc Hạnh nhân 10g, Nam Hạnh nhân 10g.

Chủ trị:

Chữa các chứng viêm khí quản cấp và mạn tính thấy xuất hiện ho do phế táo, họng đau mất tiếng.

Công hiệu:

Có tác dụng tuyên phế hóa đàm chỉ khái.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 3 chén nước nấu còn 1 chén uống dần. Hoặc dùng bài thuốc trên thêm thịt nạc heo hoặc phổi heo thêm chút mật ong hầm lấy nước uống.

Cấm kỵ:

Bài này dược tính bình hòa đối với các chứng viêm phế quản cấp hay mạn tính(do phế nhiệt hay phế táo) đều có kết quả tốt. Đối với chứng phế hư có hàn không nên dùng bài này.

Lời bình:

Long lợi diệp vị nhạt tính bình khi sắc hoặc nấu lấy nước đều không có vị đắng chát trong miệng; Nam Bắc Hạnh nhân cùng dùng chung với nhau có thể tăng cường công dụng tuyên phế chỉ khái hóa đờm; La hán quả năng lý đờm hỏa, chỉ khái, đối với chứng miệng khô lưỡi ráo, khan tiếng hoặc mất tiếng thì càng thích hợp. Các vị cùng dùng với nhau thì có tác dụng hóa đàm chỉ khái, nhuận phế. Hầm lấy nước uống hiệu quả càng tốt cho thực đạo.

Bài 5: Bách hợp tang hạnh trà

Bài thuốc:

Bách hợp 20g, Khoản đông hoa 15g, Hạnh nhân 10g, Tang bạch bì 12g.

Chủ trị:

Dùng chữa các chứng ho hơi thở ồ ồ, họng khô ngứa, đàm ít hoặc kèm có phát sốt, đau đầu trong viêm phế quản.

Công hiệu:

Nhuận phế hóa đàm chỉ khái.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước nấu còn 1 chén thêm chút mật ong chia làm 2 lần uống lúc ấm.

Cấm kỵ:

Đối với chứng viêm phế quản cấp do phế hư, hàn đàm và chứng cầu phân sệt do tỳ hư thì không nên chọn dùng bài thuốc này.

Lời bình:

Vị Khoản đông hoa sử dụng trong bài có tác dụng chỉ khái hóa đàm nhuận phế hạ khí; Hạnh nhân tuyên phế chỉ khái hóa đàm; Tang bạch bì vị ngọt tính mát có tác dụng tả phế bình suyễn; Bách hợp nhuận phế chỉ khái. Các vị khi dùng chung với nhau là có tác dụng thanh nhiệt nhuận phế chỉ khái hóa đàm.

Bài 6: Khương bối tang ngư trà

Bài thuốc:

Qua lâu nhân 15g, Qua lâu bì 15g, Xuyên bối mẫu 10g, Tang bạch bì 15g, Ngư tinh thảo 30g.

Chủ trị:

Ho tiếng đàm nặng đục, đàm vàng đặc nhiều hoặc kèm có tanh hôi, mặt đỏ miệng khô ráo lưỡi đỏ rêu vàng.

Công hiệu:

Thanh nhiệt tuyên phế điều đàm chỉ khái.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang. Nước đầu đổ 3 chén nấu còn 1 chén. Nước nhì đổ 2 chén nấu còn ½ chén. Chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Các chứng ho không có nhiệt chứng hoặc tỳ vị hư nhược thì thận trọng khi dùng bài này.

Lời bình:

Qua lâu dùng để làm thuốc thì có phân ra Qua lâu nhân và Qua lâu bì. Qua lâu nhân giỏi về tuyên phế hóa đàm nhuận trường thông tiện; Qua lâu bì giỏi về thanh hóa nhiệt đàm khoan hung lợi khí. Trong bài cả 2 vị được dùng chung với nhau thì vừa có tác dụng khoan trung lợi khí, thanh điều đàm nhiệt mà còn thông qua tác dụng nhuận trường thông tiện mà đưa đàm xuống dưới; Xuyên bối mẫu giỏi về thanh hóa nhiệt đàm; Tang bạch bì tả phế mà giáng khí; Ngư tinh thảo thanh phế nhiệt mà tiêu đàm. Các vị cùng dùng thì có tác dụng thanh nhiệt điều đàm. Nếu chứng trạng còn nhẹ có thể dùng Xuyên bối mẫu 10g, Ngư tinh thảo 30g, xương sống heo ½ kg (hoặc phổi heo 1 cái) mật táo 5 trái hầm lấy nước uống.

Bài 7: Thanh táo nhuận phế trà

Bài thuốc:

Mạch môn 15g, Sa sâm 15g, Hạnh nhân 10g, Tang diệp 12g, Bách hợp 20g, Lê bì 10g (hoặc tuyết lê 1 trái).

Chủ trị:

Ho khan không đàm, kèm có miệng khô, họng ráo, tiểu vàng, cầu táo.

Công hiệu:

Dưỡng âm nhuận táo, thanh phế chỉ khái.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Các chứng ho hàn, vị hàn thận trọng khi dùng bài này.

Lời bình:

Hàn tà dễ gây tổn thương phế. Trong bài dùng Mạch môn, Sa sâm, Bách hợp, Lê bì đều có tác dụng dưỡng phế âm mà nhuận phế táo; Tang diệp có tác dụng thanh phế nhiệt, Hạnh nhân tuyên phế giáng khí. Cả bài đều có tác dụng thanh nhiệt nhuận táo, tuyên phế, chỉ khái.

Bài 8: Tam diệp nhuận táo trà

Bài thuốc:

Nhân sâm diệp 15g, Long lợi diệp 15g, Tỳ bà diệp 15g, Thiên hoa phấn 10g, Mạch môn 15g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Ho khan không đàm, hoặc đàm ít sắc vàng mà dính hoặc trong đàm có lẩn máu, mũi họng khô đau, mất tiếng, lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng mà khô.

Công hiệu:

Thanh phế nhuận táo chỉ khái.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 4 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Ho do hàn, vị hàn thận trọng khi dùng bài này.

Lời bình:

Phế dễ bị táo tà làm tổn thương cho nên hay thấy ho khan không đàm, hoặc trong đàm có vướng máu, mũi họng khô đau, mất tiếng. chữa nên thanh phế nhuận táo, ích âm chỉ khái. Trong bài Nhân sâm diệp có tác dụng thanh phế giáng hỏa sinh tân mà chửa phế táo; Long lợi diệp nhuận phế chỉ khái lợi yết mà chữa mất tiếng; Tỳ bà diệp thanh phế giáng khí hóa đàm mà chỉ khái; Thiên hoa phấn, Mạch môn dưỡng âm sinh tân mà nhuận phế táo. Các vị cùng dùng chung với nhau thì có tác dụng thanh phế chỉ khái, sinh tân nhuận táo.

VIÊM PHỔI

Bài 1: Sơphong thanh phế trà

Bài thuốc:

Tang diệp 15g, Liên kiều 10g, Đại thanh diệp 20g, Lô căn 20g, Hạnh nhân 12g.

Chủ trị:

Chữa các chứng viêm phổi mới phát gây sốt, sợ lạnh, toàn thân đau mõi, ho, tức ngực.

Công hiệu:

Tân lương giải biểu tuyên phế chỉ khái.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Phế hư, vị hàn thận trọng khi dùng bài này.

Lời bình:

Phong nhiệt khi phạm vào phế khí không tuyên giáng mà sinh bệnh. Chữa nên tuyên phế làm chủ. Trong bài các vị Tang diệp, Liên kiều có vị cay mát có tác dụng thấu biểu để tán nhiệt tà ra ngoài; Đại thanh diệp kháng virus, giải nhiệt độc; Lô căn tiết nhiệt sinh tân; Hạnh nhân tuyên phế chỉ khái. Các vị cùng dùng chung với nhau thì có tác dụng tân lương giải biểu, tuyên phế chỉ khái.

Bài 2: Giải độc thanh phế trà

Bài thuốc:

Thủy ngưu giác 15g, Ngư tinh thảo 20g, Thạch cao 20g, Kim ngân hoa 20g, Bồ công anh 20g, Xuyên bối mẫu 10g.

Chủ trị:

Chữa viêm phổi gây sốt cao, ho, tức ngực, khạc ra đàm vàng đặc hoặc trong đàm có vướng máu, họng khô đau.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, tuyên phế hóa đàm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Phế hư, vị hàn thì thận trọng khi dùng khi dùng bài này.

Lời bình:

Tà nhiệt uất ở phế thấy sốt cao, ho, chữa nên thanh nhiệt giải độc, tuyên phế hóa đàm. Vị kim ngân trong bài có tác dụng thanh nhiệt giải độc, nghiên cứu của dược lý hiện đại đã nêu rõ. Kim ngân hoa có tác dụng kháng khuẩn tiêu viêm, kháng virus và thoái nhiệt; Thạch cao tả thực nhiệt của phế vị; Ngư tinh thảo thanh nhiệt điều đàm, cùng dùng chung với Xuyên bối mẫu thì hiệu quả càng tốt; Thủy ngưu giác, Bồ công anh có thể giải nhiệt thịnh ở phế. Các vị cùng dùng làm gia tăng công hiệu thanh nhiệt giải độc, nên tuyên phế hóa đàm.

GIẢN PHẾ QUẢN

Bài 1: Vi hành ngũ nhân trà

Bài thuốc:

Vi hành 20g, Đông qua nhân 20g, Ý dĩ nhân 20g, Qua lâu nhân 10g, Đào nhân 10g, Hạnh nhân 12g.

Chủ trị:

Chữa giãn phế quản thể đàm nhiệt ủng thịnh. Chứng thường thấy phát sốt, ho, đàm phần nhiều như mủ dính sắc vàng tanh hôi, ho khạc ra máu tươi, miệng khô thích uống mát, rêu vàng dính, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, hóa đàm chỉ huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang. Nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Cữ ăn các thức ăn cay nóng, kích thích. Người vốn có dương hư thì không nên dùng bài này.

Lời bình:

Vi hành có tác dụng thanh phế nhiệt chữa đàm mủ; Hạnh nhân, Qua lâu nhân tuyên phế hóa đàm chữa ho; Đông qua nhân, Ý dĩ nhân, Đào nhân có tác dụng tuyên phế hành ứ bài nùng, vừa thanh bên trên vừa triệt bên dưới, lại hành ứ, làm cho tà theo đường tiện mà ra ngoài.

Bài 2: Hòe hoa mao căn trà

Bài thuốc:

Hòe hoa 20g, Bạch mao căn 15g, Mạch môn 15g, Bách hợp 20g.

Chủ trị:

Giản phế quản, khạc ra máu, kèm có ho đàm ít, miệng khô, dễ nổi giận, mạch sác.

Công hiệu:

Thanh phế lương huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang. Nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Cơ thể suy nhược khạc ra máu, không có nhiệt chứng thì không nên chọn dùng bài này. Cữ ăn các thức ăn cay nóng.

Lời bình:

Hòe hoa có chứa chất rutin có thể tăng cường sức đề kháng của thành mạch cải thiện sức bền của thành mạch, rút ngắn thời gian ngưng huyết, là vị thuốc tốt để lương huyết chỉ huyết; Bạch mao căn tính hàn lương, bên trên có thể thanh phục hỏa ở phế vị, bên dưới thanh nhiệt tích ở bàng quang, làm cho nhiệt tà theo đường tiểu tiện mà ra ngoài; Mạch môn nhuận phế dưỡng âm; Bách hợp vào phế mà bổ phế âm, nhuận phế táo, tiết uất nhiệt, tiêu đàm hỏa. Các vị cùng dùng chung với nhau thì có công dụng lương huyết chỉ huyết, nhuận phế thanh nhiệt. Trong bài Bạch mao căn tươi cho vào  bài thuốc hiệu quả càng tốt.

Bài 3: Mạch đông bách hợp ý nhân trà

Bài thuốc:

Mạch môn 20g, Bách hợp 30g, Ý dĩ nhân 30g.

Chủ trị:

Giản phế quản thường thấy khó khạc đàm, miệng khô.

Công hiệu:

Nhuận phế chỉ khái hóa đàm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước nấu còn 1 chén uống ấm. Có thể hầm chung với thịt thỏ hoặc thịt heo lấy nước uống.

Cấm kỵ:

Giản phế quản không có nhiệt chứng thì không nên dùng bài này.

Lời bình:

Mạch môn có tác dụng dưỡng âm nhuận phế táo; Bách hợp nhuận phế chỉ khái, hóa đàm. Ý dĩ nhân thấm thấp lợi thủy, tiêu ung bài nùng. 3 vị cùng dùng chung có công dụng nhuận phế chỉ khái, hóa đàm bài nùng.

Bài 4: Bạch thạch mạch bì trà

Bài thuốc:

Bạch vi 10g, Thạch hộc 12g, Mạch môn 20g, Địa cốt bì 12g, Tiên hạc thảo 15g.

Chủ trị:

Chữa chứng táo nhiệt làm tổn thương phế gây ho, đàm ít, khạc ra máu, miệng họng khô ráo, sốt cơn mồ hôi trộm lòng bàn tay chân nóng.

Công hiệu:

Nhuận táo cứu phế, ích âm chỉ huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Người thể chất suy nhược khạc ra máu không có nhiệt chứng thì không chọn bài này. Kiêng ăn các thức ăn cay nóng.

Lời bình:

Phế là tạng mềm mại, thích nhuận mà ghét táo, Táo tà làm tổn thương phế thì gây ho, khạc ra máu, phế âm bị hao tổn thì miệng họng khô ráo, sốt cơn mồ hôi trộm, lòng bàn tay chân nóng. Chữa nên nhuận táo cứu phế, ích âm chỉ huyết. Trong bài các vị Mạch môn, Thạch hộc có tác dụng ích phế dưỡng âm, nhuận táo; Địa cốt bì, Bạch vi khử phục nhiệt trong phế; Tiên hạc thảo lương huyết chỉ huyết. các vị cùng dùng chung với nhau thì có tác dụng thanh táo cứu phế chỉ huyết.

PHẾ KẾT HẠCH (LAO PHỔI)

Bài 1: Thanh phế trà

Bài thuốc:

Thập đại công lao diệp 30g, Địa cốt bì 15g, Nữ trinh tử 10g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Lao phổi thấy nóng trong xương, sốt về chiều, ho, miệng khô phiền khát.

Công hiệu:

Tư âm nhuận phế.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Vị hàn thì không nên chọn dùng bài này. Kiêng ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia, thuốc lá.

Lời bình:

Thập đại công lao diệp có tác dụng tư âm thanh nhiệt, nhuận táo chỉ khái; Địa cốt bì tiết phế nhiệt, sinh tân chỉ khát; Nữ trinh tử có tác dụng dưỡng âm  khí, bình âm hỏa, giải phiền nhiệt, trừ cốt chưng; Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Các vị cùng dùng chung thì có công dụng thanh phế tiết nhiệt, dưỡng âm sinh tân.

Bài 2: Bách bộ đơn cầm trà

Bài thuốc:

Bách bộ 18g, Đơn sâm 20g, Hoàng cầm 10g.

Chủ trị:

Lao phổi thấy ho đàm ít sốt về chiều, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt nhuận phế ức khuẩn.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén rưỡi sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn thì không nên chọn dùng bài này. Cữ ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia, thuốc lá. Phụ nữ có thai không dùng.

Lời bình:

Lao phổi chủ yếu là do vi trùng lao gây ra. Nghiên cứu của y học hiện đại cho thấy Bách bộ, Đơn sâm đều có tác dụng ức chế vi trùng lao ở người, Hoàng cầm có tác dụng thanh nhiệt tả phế hỏa. Có nơi người ta dùng 3 vị thuốc trên chế thành viên nén uống chữa bệnh lao có kết quả tốt.

Bài 3: Song bách trà

Bài thuốc:

Song bách trà 15g, Bách hợp 20g, Bạch cập 15g, Mao căn 20g.

Chủ trị:

Lao phổi gây ho khạc ra máu.

Công hiệu:

ức khuẩn nhuận phế.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước nấu còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén nấu còn ½ chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hưhàn thì không nên chọn dùng bài này. Cữ ăn các thức ăn cay nóng, bia rượu, thuốc lá. phụ nữ có thai không dùng.

Lời bình:

Nghiên cứu của dược lý hiện đại cho thấy nước sắc Bách bộ có tác dụng ức chế rõ đối với vi trùng lao phổi ở người.

Bài 4: Thanh phế ích âm trà

Bài thuốc:

Sa sâm 20g, Bách hợp 20g, Mạch môn 15g, Nam, Bắc Hạnh nhân đều 10g. Mã đề 10g.

Chủ trị:

Chữa lao phổi xuất hiện ho khan, miệng khô, sốt về chiều.

Công hiệu:

Dưỡng âm thanh phế chỉ khái.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang thêm chút đường phèn. Đổ 5 chén sắc còn 2 chén uống dần hoặc hầm với thịt Thỏ lấy nước uống.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hưhàn không nên chọn dùng bài này. Cữ ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia thuốc lá các loại.

Lời bình:

Sa sâm, Bách hợp, Mạch môn đều có tác dụng tưâm sinh tân để nhuận phế táo; Nam, Bắc hạnh nhân tuyên phế khí để chỉ khái, Mã đề thanh nhiệt sinh tân để giải phiền khát, Đường phèn giúp tăng công hiệu dưỡng âm nhuận phế. Bài này có thể nấu chung với thịt thỏ lấy nước uống. Thịt Thỏ vị ngọt tính mát có tác dụng thanh nhiệt trừ phiền, hợp với các vị thuốc trên vừa ăn ngon vừa có tác dụng chữa bệnh. Đây là món ăn ngon để chữa lao phổi để chữa lao phổi thể âm hưhỏa táo.

Bài 5: Hoàng ngư trà

Bài thuốc:

Hoàng tinh 25g, Ngư tinh thảo 20g,Xuyên bối mẫu 10g, Địa cốt bì 15g.

Chủ trị:

Chữa lao phổi thấy ho kéo dài đàm ít hoặc đàm vàng xanh, 2 gò má đỏ. Sốt nhẹ, mồ hôi trộm.

Công hiệu:

Dưỡng âm nhuận phế.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này. Cử ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia thuốc lá.

Lời bình:

Hoàng tinh có tác dụng dưỡng âm nhuận phế. Nghiên cứu thực nghiệm của dược lý hiện đại cho thấy nước sắc hoàng tinh có tác dụng trên chuột và heo bị mắc bệnh lao. Hiệu quả gần giống như Rimifon; Ngư tinh thảo thanh nhiệt hóa đàm; Xuyên bối mẫu thanh phế hóa đàm chỉ khái; Địa cốt bì dưỡng âm thanh hư nhiệt. các vị cùng dùng thì có công dụng thanh nhiệt tư âm nhuận phế. Có thể dùng trong lao phổi thể xuất tiết (浸润型)và hang lao (空洞型) thấy các chứng như ho, sốt nhẹ, mồ hôi trộm.

VIÊM GAN

Bài 1: Đơn điền nhân trần trà

Bài thuốc:

Đơn sâm 30g, Điền cơ hoàng 20g, Nhân trần 30g, đường tán vừa đủ.

Chủ trị:

Chữa viêm gan cấp toàn thân đều vàng, tiểu vàng.

Công hiệu:

Hành ứ lợi thấp

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 5 chén nước nấu còn 2 chén. Thêm chút đường tán nấu cho tới khi tan ra. Người lớn mỗi lần uống 1 chén, mỗi ngày 2 lần, trẻ em giảm ½ liều người lớn.

Cấm kỵ:

Người bị viêm gan vàng da cấp cơ thể hư nhược mà không có nhiệt chứng thì không dùng bài này. Cử các thức ăn cay nóng, rượu bia thuốc lá. Phụ nữ có thai thận trọng khi dùng.

Lời bình:

“Thương hàn luận” nói rằng: “Thương hàn ứ nhiệt bên trong, thân tất phát hoàng”. Trung y cho rằng vàng da phát sinh là do thấp nhiệt uất kết lại mà nung nấu gây nghẽn tắc ở huyết mạch, làm tổn thương gan mật, bức đởm trấp tràn ra bên ngoài thấm vào da thịt mà gây ra. Trị nên thanh nhiệt lợi thấp, hành ứ thoái hoàng. Trong bài vị Đơn sâm có tác dụng hoạt huyết hành ứ, thông kinh bảo vệ gan. Nghiên cứu của dược lý hiện đại cho thấy Đơn sâm có tác dụng hạ thấp Transaminase, ức chế tế bào mỡ trong gan thông qua phản ứng oxy hóa giúp chống lại sự tổn hại của gan. Có thể ức chế hoặc giảm nhẹ phản ứng viêm và biến tính tế bào hoại tử của gan. Ngoài ra Đơn sâm còn có thể cải thiện lưu lượng máu trong gan, có lợi cho việc phục hồi tổ chức của gan khi bị tổn thương, còn có thể ức chế các tế  bào tăng sinh trong gan để phòng ngừa sự phát sinh và phát triển tế bào gan bị xơ hóa. Là vị thuốc tốt để vừa trị bệnh vừa bảo vệ và phòng các biến chứng của gan; Điền cơ hoàng vị ngọt hơi đắng tính hàn, vào can, có tác dụng tiêu viêm. Đối với chứng viêm gan gây vàng da cấp thì có hiệu quả rõ rệt. Sau khi dùng thuốc chức năng gan và các chứng trạng cải thiện rõ rệt; Nhân trần vị đắng cay tính hơi hàn có tác dụng thanh thấp nhiệt, thoái hoàng đản (vàng da). Nước sắc của Nhân trần có thể làm cho hoạt tính của transaminase trong huyết thanh hạ một cách rõ rệt. Là một vị thuốc chuyên chữa các bệnh viêm gan sinh vàng da. Cả 3 vị cùng dùng chung thì có công dụng thanh thấp nhiệt, hành ứ trệ, thoái hoàng đản. Nếu thêm đường tán vào nấu chung thì làm tăng gia sức thanh giải và bảo vệ gan. Là bài thuốc hay để chữa viêm gan vàng da cấp không thể thiếu.

Bài 2: Thoái hoàng tam thảo trà

Bài thuốc:

Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, Kim tiền thảo 20g, Ích mẫu thảo 20g.

Chủ trị:

Chữa viêm gan gây vàng da cấp thấy toàn thân ngoài da đều vàng, mắt vàng, tiểu vàng đặc như nước trà.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc lợi thấp thoái hoàng.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 5 chén nước sắc còn 2 chén, thêm đường tán vào quậy cho tan ra. Chia ra uống 3 lần, trẻ em giảm ½ liều người lớn.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này. Cử ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia, thuốc lá.

Lời bình:

Bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi thấp thoái hoàng, tán kết tiêu thủng. Nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng kháng các phản ứng biến thái và các tổn hại của tế bào gan bị viêm do virus gây ra; Kim tiền thảo có tác dụng lợi đởm thoái hoàng, giải độc hóa thấp. Có thể thúc đẩy việc thay đổi đởm trấp và làm cho hoàng đản nhanh chóng bị đẩy lui; Ích mẫu thảo có tác dụng hoạt huyết hóa ứ, cải thiện lưu lượng máu trong gan và cung cấp dưỡng khí làm cho tế bào bị hư hại của gan kịp thời khôi phục và tái sinh. Cả 3 vị cùng dùng vừa có tác dụng thanh can thoái hoàng vừa giúp bảo vệ gan,giúp gan hoạt động tốt.

Bài 3: Sài cầm giải độc trà

Bài thuốc:

Sài hồ 10g, Hoàng cầm 10g, Nhân trần 20g, Thổ phục linh 20g, Phượng vĩ thảo 12g, Thảo hà xa 10g.

Chủ trị:

Chữa viêm gan cấp hoặc mạn giai đoạn hoạt động, biểu hiện là SGPT tăng cao rõ. Các chứng trạng thấy là miệng đắng, tâm phiền, đau hông sườn, ngán dầu mỡ, ăn ít, tiểu ngắn đỏ, đại tiện không khoan khoái, mạch huyền.

Công hiệu:

Sơcan thanh nhiệt, giải độc lợi thấp.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hưhàn không nên chọn dùng bài này. Cử ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia thuốc lá.

Lời bình:

Nghiên cứu của dược lý hiện đại cho thấy Sài hồ có tác dụng kháng các biến chứng của tế bào viêm gan do virus sinh ra, thúc đẩy công năng miễn dịch của cơthể, làm lợi đởm, bảo vệ gan; Hoàng cầm cũng thanh can lợi đởm, bảo vệ gan; Nhân trần có tác dụng lợi đởm thoái hoàng, thanh thấp nhiệt bảo vệ gan; Thảo hà xa, phượng vĩ thảo, Thổ phục linh đều có tác dụng khác nhau để chống virus. Các vị cùng dùng chung với nhau có công dụng thanh thấp độc mà hạ thấp Transaminase. Đã phù hợp với nghiên cứu của dược lý lại còn đạt được những hiệu quả trên lâm sàng.

Bài 4: Thái tử ngọc tu trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 50g, Ngọc mễ tu 50g.

Chủ trị:

Chữa viêm gan cấp, mạn tính. Chứng thấy hông sườn không khoan khoái, người phiền táo hay nỗi giận, miệng khô, mạch huyền.

Công hiệu:

Dưỡng âm thanh nhiệt, bình can lợi đởm.

Cách dùng:

Đối với viêm gan cấp mỗi ngày 1 thang. Đổ 5 chén nước sắc còn 1 chén, uống từ từ thay nước trà. Viêm gan mạn thì gia thêm Khê hoàng thảo 30g, hoặc Hổ trượng căn 30g sắc lấy nước uống.

Cấm kỵ:

Cử ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia, thuốc lá.

Lời bình:

Ngọc mễ tu có tác dụng bình can lợi đởm, có tác dụng tốt với đối với chứng viêm gan; Thái tử sâm là vị thuốc ích âm bổ khí, phù chính khu tà. Cả 2 vị cùng dùng đều có công dụng khinh thanh mà bình can nhu can. Đạm thấm mà lợi thấp khu tà, nhưmưa xuân thấm nhuận. có tác dụng bảo vệ và chuyển biến tốt đối với viêm gan cấp giai đoạn cuối.

Bài 5: Thùy bồn thảo trà

Bài thuốc:

Thùy bồn thảo 10 – 30g (tươi 30- 120g).

Chủ trị:

Viêm gan cấp và mạn tính, kèm có Transaminase tăng cao. Chứng thấy vàng da nhẹ, hiếp trướng, tâm phiền, lưỡi đỏ, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp giải độc.

Cách dùng:

Đổ 4 chén nước nấu còn 2 chén, uống thay nước trà.

Cấm kỵ:

Người vị hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Thùy bồn thảo vị ngọt mát có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, giải độc. Dùng chữa viêm gan cấp và mạn tính. Hay viêm gan cấp gây vàng da thu được hiệu quả tốt nhất. Có tác dụng làm chuyển biến và hạ thấp Transaminase, đồng thời nâng cao chức năng giải độc của gan. Khi dùng hạ thấp Transaminase thì nên dùng chung với Ngũ vị tử, lấy Ngũ vị tử 90g phơi khô tán thành bột mịn, mỗi lần uống 3g, ngày uống 3 lần (trẻ em 1- 2g), 30 ngày là 1 liệu trình. Ngũ vị tử cũng là loại thuốc hạ Transaminase. Cả 2 cùng dùng chung thì hiệu quả càng tăng cao.

Bài 6: Thanh thảo trà

Bài thuốc:

Trần bì 15g, Thảo hà xa 30g, Bạch thược 20g, Tô mộc 6g.

Chủ trị:

Chữa viêm gan cấp và mạn tính giai đoạn hoạt động, hoặc chỉ có Transaminase tăng cao. Chứng thấy 2 bên hông sườn trướng đau, tâm phiền cấp táo, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt hoạt huyết, thưcan chỉ thống.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén. Chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Người vị hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Thảo hà xa thanh nhiệt giải độc, thông qua lâm sàng làm thay đổi công năng gan và hạ thấp Transaminase. Thanh bì có ôn thông khổ tiết, sơcan khí, chỉ hiếp thống. giúp hạn chế tính mát của thảo hà xa; Bạch thược làm mềm gan bảo vệ gan; Tô mộc vào can kinh có tác dụng hoạt huyết hành ứ, thông kinh chỉ thống. các vị hợp dùng có tác dụng cải thiện công năng của gan rõ rệt. Nếu có vàng da thêm Nhân trần 20g, Điền cơhoàng 20g; Xơgan thời kỳ đầu thêm sơn tra 20g.

Bài 7: Ất can thanh giải trà

Bài thuốc:

Hổ trượng 20g, Bình địa mộc 15g, Kê cốt thảo, Bán chi liên 15g, Thổ phục linh 20g, Thùy bồn thảo 20g, Xích thược 10g, cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa viêm gan siêu vi B mạn tính và viêm gan siêu vi B diễn tiến không có các triệu chứng trên lâm sàng, chỉ có thể thấy đau lâm râm vùng hạ sườn, miệng đắng, dễ nỗi giận.

Công hiệu:

Thanh can lợi thấp. Tiết độc hóa ứ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 4 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén, chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư hàn thì không nên chọn dùng bài này. Cử ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia, thuốc lá.

Lời bình:

Bệnh viêm gan siêu vi B trên lâm sàng thường phát bệnh chậm, các triệu chứng tương đối ẩn phục, bệnh trình kéo dài, dễ chuyển sang viêm gan  mạn. Dùng Hổ trượng, Bình địa mộc, Bán biên liên làm chủ, Hổ trợ dùng Thổ phục linh, Thùy bồn thảo phối thành có công dụng thanh nhiệt hóa thấp giải độc, lương huyết hoạt huyết; Kê cốt thảo, Cam thảo thanh can tỳ mà giải độc; Xích thược nhập can mà hóa ứ, có tác dụng giúp gan tăng cường chức năng lương huyết. Các vị cùng dùng chung với nhau thì có công hiệu thanh can lợi thấp, tiết độc hóa ứ.

VIÊM TRƯỜNG VỊ CẤP

Bài 1: Hỏa thán đản hoa trà

Bài thuốc:

Hỏa thán mẫu 30g, Kê đản hoa 10g, Nhân trần 20g.

Chủ trị:

Chữa viêm trường vị cấp tính thuộc thể thấp nhiệt nội khổn. Chứng thấy lòng ngực bứt rức, miệng đắng, cầu phân sệt không khoan khoái, khi đại tiện có cảm giác nặng trằn hậu môn, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch nhu sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Người viêm trường vị thể hư hàn không chọn dùng bài này.

Lời bình:

Hỏa thán mẫu vị ngọt tính hàn có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp. Nghiên cứu của dược lý hiện đại nêu rõ vị này có tác dụng ức chế khuẩn kiết lỵ và khuẩn đại trường. Dùng chữa các chứng tiêu chảy, kiết lỵ do thấp nhiệt. Thanh đản hoa thanh lợi thấp trệ; Nhân trần lợi thấp thanh nhiệt. Các vị cùng dùng chung với nhau thì có công dụng làm cho lý nhiệt được thanh, thấp nhiệt có thể trừ, trường vị tự an. Nếu đi cầu nhiều lần, kèm có nặng trằn hậu môn thì thêm bạch đầu ông 15g; Cầu ra máu mủ thì thêm Mã xỉ hiện 15g.

Bài 2: Ngũ hoa trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 15g, Mộc miên hoa 15g, Hòe hoa 15g, Kê đản hoa 15g, Cát hoa 10g.

Chủ trị:

Chữa đại trường thấp nhiệt gây đau bụng, trướng bụng, miệng đắng, cầu phân nát hoặc kèm có máu mủ, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch tế sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước 2 đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Người tiêu chảy, kiết lỵ thuộc hàn thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Kê đản hoa, Mộc miên hoa. Cát hoa có tác dụng thanh lợi thấp nhiệt mà chỉ lỵ; Kim ngân hoa, Hòe hoa có tác dụng thanh nhiệt giải độc lương huyết mà chỉ huyết lỵ. Các vị cùng dùng chung với nhau thì có công dụng thanh lợi thấp nhiệt, lương huyết chỉ lỵ. Do dược vị có tính khinh thanh, hiệu quả xác thực cho nên dân gian thường ứng dụng rộng rãi.

Bài 3: Thần sơn đạo trệ trà

Bài thuốc:

Thần khúc 15g, Sơn tra 15g, Liên kiều 12g, Bố tra diệp 10g, Trúc nhự 10g, Mạch nha 30g.

Chủ trị:

Chữa viêm trường vị cấp thấy bụng trướng đầy đau, ợ hơi nuốt chua, hoặc nôn ra thức ăn cũ có mùi chua khó ngữi, lừ đừ không muốn ăn, hoặc đau bụng muốn đi cầu.

Công hiệu:

Thanh nhiệt tiêu thực đạo trệ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Người đau bụng kiết lỵ thuộc hàn thấp hoặc tỳ vị hư hàn thì không dùng bài này.

Lời bình:

Thần khúc có tác dụng tiêu thực hòa vị. “Dược tính luận ” cho rằng: Thần khúc có tính năng “hóa thủy cốc túc thực, trưng kết tích thực, kiện tỳ noãn vị.”. Sơn tra vị chua ngọt, chuyên tiêu nhục thực tích trệ, dựa vào phát hiện nghiên cứu dược lý sau khi uống Sơn tra có thể làm tăng lượng acide trong dạ dày, thúc đẩy tiêu hóa. Sơn tra có chứa Acide béo có thể thúc đẩy tiêu hóa các chất béo tích trong dạ dày lại có tác dụng ức chế mạnh khuẩn kiết lỵ. Bố tra diệp có tác dụng thanh nhiệt tiêu thực đạo trệ. Sách “Bản thảo cầu nguyên” cho rằng Bố tra diệp “giải tất cả thuốc độc gây cổ trướng, thanh nhiệt, tiêu thực tích hoàng đản.”. Mạch nha kiện vị tiêu thực, có thể hổ trợ tiêu hóa tinh bột trong thức ăn; Liên kiều có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa; Trúc nhự thanh nhiệt hòa vị, giáng nghịch chỉ ẩu. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt tiêu thực đạo trệ.

Bài 4: Kim cát thanh tả trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 20g, Cát căn 30g, Nhân trần 20g, Hỏa thán mẫu 20g, Bạch đầu ông 20g,

Chủ trị:

Chữa viêm trường vị cấp thể thấp nhiệt xuất hiện chứng đau bụng mắc đi cầu, cầu ra như rót nước, hoặc cầu ra máu mủ. Vùng hậu môn nóng, tiểu vàng, rêu vàng nhớt, mạch nhu sác.

Công hiệu:

Thanh trường lợi thấp chỉ tả.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 4 chén nước sắc còn 1 chén, nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén uống ấm.

Cấm kỵ:

Đau bụng tiêu chảy, kiết lỵ thuộc thể hư hàn, hoặc tỳ hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Kim ngân hoa giải độc lương huyết, lợi thấp thanh tả; Cát căn thăng thanh dương, giáng trọc âm mà chỉ tả; Nhân trần thanh nhiệt lợi thấp giải độc; Hỏa thán mẫu thanh trường lợi thấp chỉ tả; Bạch đầu ông thanh nhiệt giải độc, trị huyết lỵ. Các vị cùng dùng chung với nhau có công dụng thanh nhiệt lợi thấp, thanh trường chỉ tả.

TÁO BÓN

Bài 1: Quyết minh đông qua mật trà

Bài thuốc:

Sao thảo quyết minh 20g, Đông qua nhân 30g, Mật ong 30g,

Chủ trị:

Chữa táo bón người nóng, miệng khô, tiểu vàng, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt nhuận trường thông tiện.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang trước tiên đem Thảo quyết minh, đông qua nhân giã nhỏ, đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén, đợi nguội bớt hòa mật ong vào trộn đều uống trước bữa ăn.

Cấm kỵ:

Táo bón do hư thì không dùng bài này.

Lời bình:

Thảo quyết minh có chứa 大黄酚, và 大黄泻素, có tác dụng nhuận trường thông tiện, Thảo quyết minh khổ hàn giáng tiết chuyên giải uất nhiệt, sau khi sao giã nát cho vào thuốc sắc, lấy nhân bên trong có chứa dầu béo, có thể làm nhuận trường, Đông qua nhân thanh nhiệt nhuận trường; Mật ong tuy vị ngọt tính bình, nhưng do cách chế khác nhau mà công dụng cũng khác. “Sách Bản thảo cương mục” nói rằng: “dược vật làm thuốc có 5 công dụng: thanh nhiệt, bổ trung, giải độc, nhuận táo, chỉ thống. dược vật còn sống thì tính mát, cho nên có tác dụng thanh nhiệt. sau khi đã qua chế biến thì tính ôn, cho nên có tác dụng bổ trung;……. ” công dụng của mật ong trong bài này là thanh nhiệt nhuận táo, cho nên để thuốc nguội rồi mới rót mật ong vào. Nếu cho vào lúc còn nóng thì tính ôn bổ mà không có tác dụng nhuận trường thông tiện. Các vị thuốc cùng dùng chung với nhau có công dụng thanh nhiệt nhuận trường thông tiện.

Bài 2: Ngân hoa đông qua mật trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 30g, Đông qua nhân 30g, Mật ong vừa đủ.

Chủ trị:

Chữa táo bón thấy mụn nhọt, trứng cá, miệng hôi, tiểu vàng.

Công hiệu:

Thanh nhiệt nhuận trường thông tiện.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nặng thì mỗi ngày 2 thang. Đổ 3 chén sắc còn 1 chén đợi nguội rồi mới cho mật ong vào trộn đều, uống trước bửa ăn; cũng có thể đổ 4 chén nước sắc còn 2 chén uống thay nước trà.

Cấm kỵ:

Người cơ thể hư nhược bị táo bón thì không dùng bài này.

Lời bình:

Kim ngân hoa vừa có tác dụng thanh nhiệt lương huyết giải độc mà còn chữa được mụn nhọt, trứng cá. Lại có thể thanh tả thực nhiệt ở ruột để mà thông tiện. Cả 3 vị cùng dùng chung với nhau thì có công dụng thanh nhiệt giải độc, nhuận trường thông tiện. Nếu mụn nhọt, trứng cá nổi rõ thì gia Bồ công anh 20g, để tăng sức giải độc.

Bài 3: Tứ nhân trà

Bài thuốc:

Úc lý nhân 12g, Hỏa ma nhân 20g, Bá tử nhân 12g, Đào nhân 10g.

Chủ trị:

Bón do thói quen, táo bón ở người già.

Công hiệu:

Nhuận trường thông tiện.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống trước bữa ăn,

Cấm kỵ:

Người táo bón do huyết hư, khí hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

4 vị trên giàu chất béo, có tác dụng kích thích đối với niêm mạc đại trường, làm cho tăng phân tiết, tăng nhu động, giảm thiểu việc hấp thu nước của đại trường mà gây tiêu chảy, cho nên có thể nhuận trường thông tiện. Nếu táo bón kiêm thấy thực trệ thì gia La bặc tử; Táo bón ở người già thì bỏ Đào nhân, gia nhục thung dung 20g, bón do nhiệt gia Đại hoàng 10g, bón kèm có ho gia Hạnh nhân 12g, Qua lâu nhân 12g.

Bài 4: Thanh nhiệt thông tiện trà

Bài thuốc:

Ma tử nhân 20g, Chỉ thực 12g, Bạch thược 20g, Hậu phác 15g, Đại hoàng 10g (cho vào sau), Hạnh nhân 15g.

Chủ trị:

Chữa đại tiện phân khô kết, tiểu ngắn đỏ, mặt đỏ người nóng, miệng hôi miệng hôi, bụng trướng đau, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt nhuận trường thông tiện.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn 2 chén sắc còn ½ chén uống trước khi ăn.

Cấm kỵ:

Người cơ thể hư nhiệt mà táo bón thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Ma tử nhân có tác dụng nhuận trường thông tiện; Đại hoàng có tác dụng tiết nhiệt thông tiện. Chứng minh trên thực nghiệm cho thấy Đại hoàng có chứa chất gây tiêu chảy là 蒽甙. Khi dùng sống hay chín thì phải nấu từ 10 – 15 phút là tốt nhất, gây tiêu chảy thì hiệu quả càng tốt. Do đó mà vị này cần phải dùng sống và cho vào sau; Hạnh nhân có tác dụng giáng khí nhuận trường; Bạch thược dưỡng âm hòa lý; Chỉ thực, Hậu phác hạ khí phá kết, hành khí trừ mãn, làm tăng sức thông tiện. Các vị hợp dùng thì cùng có công dụng thanh nhiệt hành khí, nhuận trường thông tiện. Đối với chứng táo bón do trường táo có tích trệ lại càng thích nghi.

CAO HUYẾT ÁP

Bài 1: Hạ cúc khổ đinh trà

Bài thuốc:

Hạ khô thảo 30g, Dã cúc hoa 15g, khổ đinh trà 10g,

Chủ trị:

Chữa cao huyết áp thấy các chứng can dương thượng kháng như đau đầu, chóng mặt, mặt mắt đỏ, người phiền táo dễ nổi giận. Miệng đắng khô, cầu bón tiểu đỏ, mạch huyền hoặc huyền sác.

Công hiệu:

Thanh can nhiệt, hạ huyết áp.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 4 chén nước sắc còn 2 chén, chia làm 2 lần uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Người cao huyết áp không có thực nhiệt chứng và vị hàn thì không dùng bài này.

Lời bình:

Can dương thượng kháng là nguyên nhân dẩn tới cao huyết áp, do đó nguyên tắc điều trị là bình can tiềm dương. Trong bài Hạ khô thảo là vị thuốc khổ hàn, quy kinh can, đởm, có tác dụng thanh can minh mục, tả hỏa. Nghiên cứu của dược lý hiện đại nêu rõ Hạ khô thảo có tác dụng hạ áp rõ rệt, đặc biệt là cao huyết áp do thận thì tác dụng lại càng rõ hơn; Dã cúc hoa, Khổ đinh trà đều có thể thanh nhiệt giải độc, thanh can minh mục, phối với Hạ khô thảo thì tác dụng bình can tiềm dương càng thể hiện rõ hơn.

Bài 2: Cúc hoa song thảo trà

Bài thuốc:

Cúc hoa 20g, Hạ khô thảo 20g, Thảo quyết minh 20g.

Chủ trị:

Chữa cao huyết áp nguyên phát thấy chóng mặt, hoa mắt, miệng khô, đắng, đại tiện khô kết kèm có cao huyết áp.

Công hiệu:

Thanh can giáng áp thông tiện.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén, uống ấm.

Cấm kỵ:

Tỳ hưcầu phân sệt thì không chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa cao huyết áp nguyên phát hiệu quả rất tốt. Trong bài Hạ khô thảo, Thảo quyết minh có tác dụng hạ áp. Đối với chứng cao huyết áp kèm có cao mỡ máu lại càng thích hợp; Cúc hoa có tác dụng thanh can minh mục hạ áp. Duy chỉ có Hạ khô thảo, dụng lượng cao hoặc uống lâu đối với trường vị có tác dụng kích thích. Theo báo cáo khác cho thấy Hạ khô thảo khi dùng độc vị với liều cao có thể đưa tới phản ứng dị ứng, các chứng trạng biểu hiện là toàn thân nổi mẫn ngứa ngáy hoặc có lợm giọng buồn nôn, nôn ói, chóng mặt, tim đập nhanh, đau bụng, khi sử dụng cần phải chú ý.

Bài 3: Hy thiêm địa cốt trà

Bài thuốc:

Hy thiêm thảo 30g, Địa cốt bì 10g.

Chủ trị:

Chữa cao huyết áp thể can dương thượng kháng. Chứng thấy miệng đắng, chóng mặt, phiền táo, mặt đỏ tai ù, lưỡi đỏ, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh can hạ áp.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén, uống ấm

Cấm kỵ:

Người cao huyết áp thể dương hưkhông nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Hy thiêm thảo vị cay đắng mà hàn, quy kinh can thận, có tác dụng khu phong thấp, hạ huyết áp. Nghiên cứu của dược lý hiện đại nêu rõ nước sắc của cây này có tác dụng hạ áp rất tốt; Địa cốt bì vị ngọt nhạt mà hàn “Dược phẩm hóa nghĩa” có ghi chép công dụng của Hy thiêm thảo nhưsau: “ bên trong trừ có mồ hôi, nóng trong xương, bên trên lý đầu phong”. Nghiên cứu của dược lý hiện đại phát hiện Địa cốt bì có tác dụng hạ áp giúp duy trì và ổn định huyết áp. Cả 2 cùng dùng chung với nhau thì có công dụng thanh nhiệt bình can, tiềm dương hạ áp. Dùng chữa cao huyết áp thể can dương thượng kháng.

Bài 4: Thanh can giáng áp trà

Bài thuốc:

Cúc hoa 20g, Bạch thược 20g, Mẫu đơn bì 15g, Câu đằng 25g(cho vào sắc sau),

Chủ trị:

Chữa cao huyết áp thời kỳ đầu, chứng thấy đầu đau, trướng, chóng mặt hoa mắt, tâm phiền miệng đắng, ngực sườn đầy tức, hay chiêm bao, dễ kinh sợ, tiểu vàng đỏ, cầu bón kết, lưỡi đỏ rêu vàng mỏng, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh can tả hỏa giáng áp.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén uống sau khi ăn.

Cấm kỵ:

Người cao huyết áp cơ thể hư nhược không có chứng can nhiệt thì không dùng bài này.

Lời bình:

Cao huyết áp thời kỳ đầu bệnh phần nhiều ở tại can, cùng lấy thực chứng làm chủ. Cho nên chữa nên sơ can, thanh can, hạ áp. Trong bài Bạch thược sơ can giải uất; Đơn bì thanh can tả hỏa; Cúc hoa, Câu đằng bình can thanh nhiệt hạ áp. Các vị dùng chung với nhau, cùng có công dụng thanh can hạ áp. Nếu hay chiêm bao kinh sợ gia Dạ giao đằng 15g, Toan táo nhân 15g; tay chân phát trướng gia Trạch tả; Tiện bí gia Đại hoàng 10g; Mặt mắt đỏ gia Long đởm thảo 12g. Nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy Câu đằng có tác dụng hạ áp rất tốt, nhưng thành phần hạ áp rất dễ bốc hơi cho nên Câu đằng khi dùng chữa hạ huyết áp nên cho vào sắc sau.

Bài 5: Thanh giáng trà

Bài thuốc:

Câu đằng 25g, Cúc hoa 20g.

Chủ trị:

Cao huyết áp thấy đau đầu, hoa mắt, miệng khô tâm phiền, lưỡi đỏ, mạch huyền sác.

Công dụng:

Thanh can hạ áp.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước ngâm trong 20 phút dùng lửa nhỏ sắc sôi khoảng 5 phút là được. Uống thay nước trà.

CAO CHỈ ĐẢN BẠCH HUYẾT CHỨNG (MỠ MÁU CAO)

Bài 1: Tiêu chỉ trà

Bài thuốc:

Thảo quyết minh 15g, Lá sen 10g, Trạch tả 10g, Phục linh 15g, Cúc hoa 12g, Nhẫn đông đằng 15g, Ý dĩ nhân 25g, Ngọc mễ tu 10g.

Chủ trị:

Mỡ máu tăng cao thấy bụng đầy trướng, người lừ đừ không muốn ăn, ọe khan, da dẻ, mí mắt, đầu khớp xương có đốm vàng, tiểu vàng, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh lợi thấp nhiệt giáng chỉ.

Cách dùng:

Mổi ngày 1 thang, nước đầu đổ 4 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén, chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dương hư, vị hàn không nên chọn dùng bài này. Cử ăn các thức ăn béo. Nên ăn các thức ăn thanh đạm là chính.

Lời bình:

Trung y cho rằng mỡ máu cao và béo phì có liên quan đến thói quen ăn uống không tốt. Trong bài thảo quyết minh có tác dụng thanh nhiệt minh mục, nhuận trường thông tiện. Nghiên cứu của dược lý hiện đại nêu rõ Quyết minh tử có tác dụng ức chế máu đông, hạ Cholesterol trong huyết tương và treglyceric. Làm thanh chỉ tả trọc, lợi thủy thấm thấp; Phục linh kiện tỳ lợi thấp để phù chính; Cúc hoa thanh nhiệt sơ can; Nhẩn đông đằng thanh nhiệt tả hỏa, tuyên thông kinh lạc. Các vị dùng chung có công dụng thanh nhiệt, lợi thấp, hạ mỡ máu. Kèm thấy đại tiện khô kết thì gia Hậu phác 10g, Đại hoàng 10g (cho vào sau); Kèm có đàm nhiều, đàm vàng gia trúc nhự 10g, Pháp bán hạ 10g.

Bài 2: Sơn tra đông thanh trà

Bài thuốc:

Sơn tra 10g, Mao đông thanh 30g.

Chủ trị:

Chữa Cholesterol tăng cao kèm thấy có đầu trướng, người lừ đừ, miệng khô đắng, lưỡi đỏ, mạch sác hoặc huyền.

Công hiệu:

Hạ Cholesterol.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống ấm.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư nhược không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Sơn tra vị chua ngọt hơi ấm, có tác dụng tiêu tích tán ứ. Nghiên cứu của y học hiện đại nêu rõ Sơn tra có tác dụng ức chế Cholesterol hợp thành. Do đó mà hạ thấp Cholesterol trong huyết thanh, ngoài ra Sơn tra còn làm tăng cường sức co bóp của cơ tim, làm giản mạch vành và mạch máu ngoại vi, làm chậm tần suất của tim và hạ huyết áp. Cho nên còn được xem là vị thuốc làm sạch mạch máu “Huyết quản thanh khiết tể ” vì thế vị này được ứng dụng để chữa hệ thống tim mạch rất rộng; Mao đông thanh khổ hàn, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết thông mạch, hạ Cholesterol và Treglyceric. Cả 2 cùng dùng vừa thanh nhiệt tiêu mỡ vừa hoạt huyết thông lạc, làm cho ứ nhiệt được thanh, mỡ theo nhiệt mà giáng.

Bài 3: giáng chỉ trà

Bài thuốc:

Sinh Hà thủ ô 20g, Địa cốt bì 10g, Thảo quyết minh 30g.

Chủ trị:

Chữa Cholesterol tăng cao kèm thấy tâm phiền, mồ hôi trộm, nóng trong xương, sốt cơn. Cầu phân khô kết, lưỡi đỏ, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Hạ Cholesterol.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia ra uống ấm.

Cấm kỵ:

Người bị tiêu chảy do tỳ hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Hà thủ ô dùng sống có tác dụng nhuận trường thông tiện. Nghiên cứu của dược lý hiện đại nêu rõ Hà thủ ô có chứa thành phần hữu hiệu có thể kết hợp với Cholesterol để ngăn cản mỡ lưu lại trong huyết thanh đồng thời thúc đẩy mỡ bài xuất ra ngoài. Do đó có tác dụng hạ mỡ và loại mỡ ra ngoài huyết thanh; Địa cốt bì có tác dụng lương huyết trừ hư nhiệt đồng thời hạ Cholesterol trong huyết thanh; trong Thảo quyết minh có chứa chất loại Anthraquinone và các diễn sinh vật khác đều có thể thúc đẩy loại trừ mỡ. 3 vị cùng dùng chung với nhau có tác dụng thanh nhiệt tiêu mỡ, thông tiện bài mỡ. Bài này có tác dụng tốt đối với chứng Cholesterol tăng cao kèm có táo bón.

Bài 4: Giáng chỉ thông mạch trà

Bài thuốc:

Hà thủ ô 30g, Thảo quyết minh 30g, Ý dĩ nhân 30g, Nhân trần 20g, Trạch tả 15g, Sơn tra 18g, Đơn sâm 20g, Uất kim 12g.

Chủ trị:

Chữa cao mỡ máu, hoặc trên lâm sàng không thể hiện rõ nhưng khi làm xét nghiệm mới biết bị cao mỡ máu.

Công hiệu:

Tư âm giáng hỏa, tả can thông mạch.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén rưỡi sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn 1 chén. Người không có bệnh đau dạ dày thì uống trước bữa ăn, người bị đau dạ dày thì uống sau bữa ăn.

Cấm kỵ:

Người tỳ thận dương hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dựa trên nguyên tắc thể dụng tiêu bản kiêm cố, bổ tả cùng dùng. Trong bài Hà thủ ô có tác dụng nhuận trường thông tiện lại có thể hạ mỡ bài mỡ; phối với Trạch tả, Nhân trần có tác dụng thanh lợi thấp nhiệt ở hạ tiêu; dùng Thảo quyết minh có tác dụng nhuận trường thông tiện, đạo trệ tả trọc bài chỉ; Đơn sâm hành ứ thông mạch; Uất kim sơ can mà hành uất khí. Trong bài bổ mà không trệ, hành mà không tán. Cùng có cộng hiệu tư âm giáng hỏa, hành trệ thông mạch, giáng trọc tiêu chỉ.

BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Bài 1: Tàm trùng trà

Bài thuốc:

Tàm trùng 10 con, Sơn dược 30g, Ngọc mễ tu 15g (Ngọc mễ tâm cũng được), Tri mẫu 15g, Ý dĩ nhân 20g, Địa cốt bì 15g.

Chủ trị:

Chữa bệnh tiểu đường các triệu chứng thấy người mệt mõi yếu sức, khát uống nhiều, mau đói mau tiêu, tiểu lắt nhắt, lưỡi đỏ mạch tế sác.

Công hiệu:

Ích âm chỉ tiêu, kiện tỳ nhiếp tinh.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén rưỡi nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia ra uống ấm.

Cấm kỵ:

Người tỳ thận dương hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Tàm trùng là sản vật ở phương nam dễ tìm kiếm có tác dụng chỉ tiêu khát chữa tiểu quá nhiều; Tri mẫu tư âm nhuận táo tăng dịch; Địa cốt bì trừ cốt chưng phiền nhiệt; Sơn dược, Ý dĩ nhân kiện tỳ ích khí để sinh tân; Ngọc mễ tu thanh nhiệt hạ đường. Các vị cùng dùng có công dụng vừa tư âm tăng dịch lại chỉ tiêu khát mà hạ đường. Đường huyết tăng cao gia Huyền sâm 12g, Thương truật 10g; Hư nhiệt thiên thịnh gia Mạch môn 10g, Thạch hộc 10g.

Bài 2: Chỉ tiêu trà

Bài thuốc:

Tri mẫu 10g, Kê nội kim 15g, Mạch môn 20g, Thạch hộc 12g, Sinh địa hoàng 20g, Thiên hoa phấn 15g.

Chủ trị:

Chữa tiểu đường người gầy ốm, phiền nhiệt  khát nước, uống nhiều, tiểu nhiều, tối ngủ giật mình thức dậy miệng khô quánh, chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt dưỡng âm, tư thận sinh tân.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sác còn ½ chén chia ra uống ấm ngày 2 lần.

Cấm kỵ:

Người tỳ thận khí hư không  nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này có tác dụng thanh nhiệt dưỡng âm, sinh tân chỉ khát. Đối với bệnh tiểu đường thuộc thể âm hư nội nhiệt thấy rõ các triệu chứng như: choáng váng, yếu sức, người ốm, hay ăn mau đói, miệng khô khát, uống nhiều đái nhiều, phiền nhiệt sốt về chiều. Trong bài Sinh địa hoàng có tác dụng thanh nhiệt lương huyết; Tri mẫu, Thạch hộc có tác dụng tư âm giáng hỏa, ích âm sinh tân chỉ tiêu khát; Mạch môn, Thiên hoa phấn dưỡng phế vị âm mà tư thủy ở thượng nguồn; Kê nội kim hạ đường. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt và tư âm.

Bài 3: Nhị địa giáng đường trà

Bài thuốc:

Địa cẩm thảo 15g, Địa cốt bì 15g, Thái tử sâm 20g, Mạch môn 15g.

Chủ trị:

Chữa bệnh tiểu đường thể khí âm lưỡng hư thấy khát muốn uống, dễ đói mau tiêu, tiểu tiện nhiều lần, hơi thở ngắn người yếu sức, hình thể gầy ốm, chất lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Ích khí dưỡng âm, thanh nhiệt giáng đường.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn 1 chén, uống ấm.

Cấm kỵ:

Người tỳ thận dương hư không nên chọn bài này.

Lời bình:

Bài này có tác dụng hạ đường huyết, đường niệu. Trong bài Thái tử sâm, Mạch môn có tác dụng tư âm ích khí; Địa cốt bì thanh nhiệt tả hư hỏa; Địa cẩm thảo có tác dụng thanh nhiệt hạ đường huyết. Các vị cùng dùng có công dụng tưâm ích khí và thanh nhiệt giáng đường, đây là bài thuốc tốt chữa tiểu đường.

Bài 4: Bạch thạch hoa trúc dưỡng âm trà

Bài thuốc:

Bạch thược 20g, Thạch hộc 15g, Thiên hoa phấn 10g, Đạm trúc diệp 6g, Tri mẫu 10g, Mẫu đơn bì 10g, Sinh địa hoàng 20g, Mạch môn 15g.

Chủ trị:

Chữa tiểu đường các triệu chứng là khát uống nhiều, phiền táo sốt cơn, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch sác.

Công hiệu:

Dưỡng âm ích khí, chỉ khát lợi tiểu.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn 1 chén. Uống ấm.

Cấm kỵ:

Người vị hàn, tỳ thận dương hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Thạch hộc có tác dụng cường âm ích tinh, ích khí trừ nhiệt, chuyên chữa chứng môi miệng khô khát do nhiệt bệnh làm tổn thương tân dịch; Bạch thược dưỡng âm hòa vinh, chữa tiêu khát gây ra uống nhiều; Tri mẫu, Hoa phấn chữa tiêu khát miệng khô khát muốn uống; Sinh địa tư thận thủy, ích chân âm; có tác dụng ức chế đường huyết; Đạm trúc diệp có tác dụng lợi tiểu tiện, chỉ tiêu khát; Mạch môn chữa chứng miệng khô muốn uống nước;

Mẫu đơn bì có tác dụng thanh tả tướng hỏa. Các vị cùng dùng chung với nhau cùng làm cho tân âm được dưỡng, táo hỏa được yên, tiêu khát sẽ khỏi.

PHÌ BẠN BỆNH (BỆNH BÉO PHÌ)

Bài 1: Tiêu chỉ giảm phì trà

Bài thuốc:

Hà diệp 15g, Thảo quyết minh 20g, Sơn tra 20g, Trạch tả 20g,

Chủ trị:

Chữa béo phì kèm thấy mỡ máu cao.

Công hiệu:

Có tác dụng tiêu chỉ giảm phì.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang hoặc cách ngày 1 thang. Nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén. Nước nhì đổ 2 chén sắc còn 1 chén, chia 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Người béo phì thuộc thể tỳ thận dương hư thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Chứng béo phì phần nhiều do thấp uất nhiệt uẩn, mỡ tích lại bên trong mà gây ra. Chữa nên thanh nhiệt lợi thấp, đạo trệ tiêu chỉ. Trong bài Hà diệp có tác dụng thanh thử lợi thấp, là vị thuốc tốt có tác dụng sinh phát tỳ vị thanh dương, thanh dương được thăng được thì trọc âm phải giáng, mỡ tùy theo thấp trọc mà bài tiết ra ngoài. Sách bản thảo cương mục nói rằng : “ uống Lá sen làm cho người ốm đi, uống độc vị Lá Sen có thể làm tiêu khí thủng消阳水浮肿之气”. Thảo quyết minh có tác dụng tiêu chỉ thông tiện; Sơn tra tiêu thực đạo trệ để hạ chỉ (mỡ); Trạch tả tiết nhiệt giáng trọc. Cả 4 vị cùng dùng là bài thuốc hay có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, giáng trọc tiêu chỉ, khinh thân giảm phì.

Bài 2: Tam diệp sấu thân trà

Bài thuốc:

Hà diệp 10g, Phan tả diệp 10g, Lục trà diệp 10g.

Chủ trị:

Chữa béo phì kèm thấy có đại tiện không thông.

Công hiệu:

Giảm phì sấu thân.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, lấy Lá Sen, Phan tả diệp cắt thành sợi trộn với Lá Trà chia làm 2 phần sáng và chiều, cho vào túi vải sắc uống thay nước trà.

Cấm kỵ:

Người béo phì kèm có tiêu chảy do tỳ hư thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Lá Sen là vị thuốc có tác dụng giảm béo làm cho người nhẹ nhàng; Phan tả diệp tả nhiệt hành trệ, thông tiện lợi thủy; Lục trà diệp tiêu chỉ giảm phì. Cả 3 vị hợp dùng cùng có tác dụng tả nhiệt giảm phì, tiêu chỉ xấu thân.

Bài 3: Lợi thấp giảm phì trà

Bài thuốc:

Hà diệp (Lá Sen) 10g, Phục linh 20g, Bạch truật 12g, Ý dĩ nhân 20g, Trần bì 10g.

Chủ trị:

Chứng béo phì lấy thấp làm chủ, chứng thấy người mập, ngực bụng trướng đầy, người lừ đừ hơi thở ngắn yếu sức.

Công hiệu:

Lý khí hành thủy giảm phì.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm. Cũng có thể lấy các vị thuốc trên tán thành bột, mỗi lần 3g, mỗi ngày 2 lần hãm với nước sôi uống thay nước trà.

Cấm kỵ:

Người mập thể dương hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Lá Sen có tác dụng giảm phì làm nhẹ thân thể; Phục linh, Bạch truật có tác dụng kiện tỳ lợi thủy, thấm thấp; Ý dĩ nhân trừ thấp lợi thủy để làm nhẹ nhàng cơ thể; Trần bì có tác dụng lý khí hành trệ, trợ tiêu hóa, giảm mỡ tích trong cơ thể lại có thể bài đàm lợi thấp. Các vị cùng dùng có công dụng làm cho trệ khí được hành, thấp trọc được thanh mà thân thể tự nhẹ. Bài này có thể dùng chữa và dự phòng chứng béo phì và cao mỡ máu.

Bài 4: Thanh nhiệt giảm phì trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 20g, Hạ khô thảo 15g, Thảo quyết minh 20g, Đại hoàng 10g.

Chủ trị:

Chữa hay ăn người mập chắc, tinh lực sung mãn, sắc mặt đỏ nhuận, miệng khô, lưỡi ráo, đại tiện khô kết không thông.

Công hiệu:

Thanh nhiệt thông tiện giảm phì.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn 1 chén, uống ấm trước bữa ăn.

Cấm kỵ:

Người béo phì không có chứng nhiệt hoặc đại tiện phân sệt không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Sinh địa hoàng có tác dụng thanh nhiệt lương huyết tả hỏa; Thảo quyết minh tiêu chỉ thông tiện; Hạ khô thảo thanh nhiệt tán kết tiêu chỉ; Đại hoàng thông phủ tiết nhiệt. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt thông tiện giảm phì.

BƯỚU TUYẾN GIÁP TRẠNG

Bài 1: Thanh can ức kháng trà

Bài thuốc:

Mẫu đơn bì 15g, Bạch thược 20g, Hạ khô thảo 15g, Sinh địa hoàng 20g, Câu đằng 10g.

Chủ trị:

Bướu không phải do thiếu iod thấy trước cổ sưng nhẹ hoặc sưng vừa, tâm phiền dễ nổi giận, mồ hôi ra sợ nóng, mặt nóng đỏ, miệng đắng khô, hay đói muốn ăn, mắt lộ, tay run, đại tiện lượng nhiều.

Công hiệu:

Thanh tả can hỏa.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén hòa chung 2 nước lại chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Bướu thuộc thể tỳ vị dưong hư thì không nên chọn bài này.

Lời bình:

Can thuộc mộc, mộc dễ hóa hỏa, can hỏa thịnh có thể thấy người dễ nỗi giận, nóng bừng, miệng khô đắng. Can khí uất trệ thì đàm kết lại, ở cổ thấy cổ sưng, ở mắt thấy mắt lộ. Phép chữa nên thanh can tả hỏa, tán kết tiêu anh. Trong bài Mẫu đơn bì có tác dụng thanh can tả hỏa; Bạch thược dưỡng âm nhu can; Câu đằng bình can tức phong; Sinh địa hoàng, Hạ khô thảo lương huyết tán kết. Các vị cùng dùng thì có công dụng làm cho can âm được dưỡng mà can hỏa tự diệt, lương huyết tán kết mà bướu tự tiêu. Nếu phiền táo nhiều thì gia Long đởm thảo 10g, ăn nhiều mau đói thì gia Thạch cao 20g.

Bài 2: Tứ hải nhứt sâm trà

Bài thuốc:

Hải tảo 10g, Hải đới 15g, Hải phiêu tiêu 12g, Hải cáp xác 20g, Sa sâm 20g.

Chủ trị:

Chữa bướu tuyến giáp do thiếu iod thấy trước cổ sưng to, táo nhiệt ra mồ hôi, tim đập nhanh hồi hộp mất ngủ, người bực bội dễ nỗi giận, hay ăn mau đói, gầy ốm tay run.

Công hiệu:

Dưỡng âm thanh hỏa hóa đàm tán kết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén hòa chung 2 nước chia làm 2 lần.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này, nên ăn nhiều rau tươi, cử ăn các thức ăn cay nóng, dầu mỡ.

Lời bình:

Trong bài Hải tảo, Hải đới đều là thực vật ở biển, có vị mặn tính hàn, có tác dụng nhuyễn kiên tán kết; Hải cáp xác là vỏ của con sò biển, Hải phiêu tiêu là xương của con mực, cả 2 đều có tác dụng thanh nhiệt hóa đàm, nhuyễn kiên tán kết; Sa sâm có tác dụng dưỡng âm sinh tân. Các vị cùng dùng vừa có tác dụng thanh nhiệt dưỡng âm, lại có thể tán kết hóa đàm, công bổ kiêm thi, điều hòa âm dương. Tâm phiền mất ngủ gia Toan táo nhân 10g để dưỡng tâm an thần, Người bực bội dễ nỗi giận gia uất kim 12g, Bạch thược 20g, Long đởm thảo 10g để sơ can giải uất tả hỏa; Tắt tiếng gia Mạch môn 12g để lợi yết thanh âm; Tiêu chảy gia Phục linh 20g,Sơn dược 20g để kiện tỳ chỉ tả, Táo bón gia Hậu phác 10g, Thảo quyết minh 20g, để thông tiện; Bướu sưng không tiêu, kết khối cứng gia Tam lăng 10g, Nga truật 10g để hóa ứ tán kết.

Bài 3: Hải tảo trà

Bài thuốc:

Hải tảo 30g, Côn bố 20g, Hạ khô thảo 15g,

Chủ trị:

Chữa bướu tuyến giáp do thiếu iod chứng còn nhẹ thấy các triệu chứng như người bực bội dễ cáu gắt, ăn nhiều mau đói, hình thể gầy còm, nhẹ thì tay run hoặc trước cổ hơi sưng, lưỡi đỏ, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Nhuyễn kiên tán kết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 4 chén nước sắc còn 2 chén uống thay trà. Hoặc hầm chung với Trư hầu quản 1 cái lấy nước uống.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư nhược không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Hải tảo hàm hàn có tác dụng tiêu đàm nhuyễn kiên tán kết, chống tuyến giáp trạng sưng. Nghiên cứu dược lý hiện đại đã phát hiện Hải tảo có chứa chất iod có thể ức chế tạm thời tuyến giáp trạng cơ năng vượt quá mức bình thường, và tăng chuyển hóa, từ đó mà giảm nhẹ chứng trạng, có thể làm cho các tổ chức trạng thái bệnh lý tan vỡ và hòa tan. Côn bố có công dụng giống như Hải tảo 2 vị phối hợp với nhau làm tăng dược lực của thuốc. Hạ khô thảo có tác dụng tiêu đàm, lương huyết tán kết. Cả 3 cùng dùng thì có công dụng tiêu đàm tán kết nhuyễn kiên. Trung y dựa vào lý luận “dĩ hình bổ hình” “tức là ăn gì bổ nấy”, có thể dùng bài này gia trư hầu quản 1 cái hầm lấy nước uống.

BAN XUẤT HUYẾT DO GIẢM TIỂU CẦU NGUYÊN PHÁT

Ban xuất huyết do giảm tiểu cầu nguyên phát(发性血小板减少性 紫癜) là 1 loại bệnh xuất huyết có liên quan đến tính miễn dịch của cơ thể. Trên lâm sàng thấy ngoài da nổi những nốt đỏ, niêm mạc xuất huyết. Chứng trạng điển hình là ngoài da nổi những điểm ứ huyết hoặc những đốm ứ huyết, chảy máu chân răng, chảy máu mũi, kinh nguyệt quá nhiều.

Phương hướng tuyển chọn lương trà

Sinh địa tử thảo trà và Địa hòe lương huyết trà đều có thể chữa Ban xuất huyết do giảm tiểu cầu nguyên phát gây ra bì phu tử điến, trong đó kèm thấy có chân răng chảy máu, chảy máu mũi v.v. vùng thượng bộ xuất huyết có thể chọn dùng bài Sinh địa tử thảo trà. Nếu thấy kinh ra quá nhiều hoặc vùng hạ bộ xuất huyết nên chọn dùng bài Địa hòe lương huyết trà.

Bài 1: Sinh địa tử thảo trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Mẫu đơn bì 15g, Tử thảo 12g, Xích thược 12g.

Chủ trị:

Chữa chứng huyết tiểu bản giảm thiểu tính tử điến thuộc thể huyết nhiệt phát ban. Các triệu chứng xuất hiện là phát bệnh mau, mới đầu có nóng lạnh, ngoài da có nổi nốt ban màu đỏ tía thường mọc ở đầu chi hoặc kèm thấy chảy máu răng, chảy máu mũi, lưỡi đỏ tươi, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 4 chén sắc còn chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư nhược không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Nguyên nhân phát ra bệnh này là do nhiệt tà nhập huyết, làm tổn thương huyết lạc, nhiệt bức huyết vọng hành tràn vào cơ phu mà phát ban, bên trên  tràn vào thanh khiếu mà gây chảy máu răng, chảy máu mũi, chữa nên thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ huyết. Trong bài Sinh địa hoàng, Mẫu đơn bì, Tử thảo, Xích thược đều có tác dụng lương huyết chỉ huyết. Các vị cùng dùng thì có thể làm cho nhiệt độc được giải, huyết theo kinh mà vọng hành, Tử ban tự tiêu. Nếu phát sốt gia Kim ngân hoa 15g; Răng chảy máu kèm hôi miệng thì gia Thạch cao 20g, Tri mẫu 10g; Chảy máu mũi gia Bạch mao căn 15g, Ngẫu tiết 10g.

Bài 2: Địa hòe lương huyết trà

Bài thuốc:

Hòe hoa 30g, Sinh địa hoàng 30g, Tiễn Bạch mao căn 30g, Tiểu kế 30g, Trắc bá diệp 15g,

Chủ trị:

Tứ chi nổi ban đỏ do huyết nhiệt phát ban, chảy máu răng, chảy máu mũi, lưỡi đỏ tươi, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lương huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 4 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết là phép trị chữa bệnh huyết nhiệt phát ban. Trong bài Sinh địa hoàng, Hòe hoa có tác dụng thanh nhiệt lương huyết; Bạch mao căn có tác dụng thanh lương chỉ huyết đồng thời lại có thể sinh tân dịch; Tiểu kế, Trắc bá diệp đều có tác dụng lương huyết chỉ huyết. Nghiên cứu của dược lý hiện đại cho thấy cả 2 vị Tiểu kế và Trắc bá diệp đều có tác dụng không giống nhau ở chổ rút ngắn thời gian ngưng máu và cầm máu. Các vị cùng dùng chung với nhau thì có công dụng làm thanh tà nhiệt, cầm máu, tiêu tử ban.

THỐNG PHONG(Gout)

Bài 1: Thanh tý trà

Bài thuốc:

Nhẫn đông đằng 30g, Thanh phong đằng 30g, Lạc thạch đằng 20g, Bại tương thảo 30g, Thổ phục linh 30g, Lão hạc thảo 30g.

Chủ trị:

Chữa thấp khớp thuộc phong thấp nhiệt. Chứng thấy khớp xương đau nhức, sờ thì thấy nóng, thậm chí sưng nóng đỏ đau, đau không chịu nổi, gặp lạnh thì đỡ, thấy nóng thì đau tăng. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, sơ phong trừ thấp, hoạt huyết thông lạc.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 4 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư nhược thì thận trọng khi dùng bài này. Cử ăn tôm, cua cùng các  thức ăn từ biển.

Lời bình:

Bệnh thấp khớp thuộc phong thấp tà nhiệt ủng trở lạc mạch. Chữa nên thanh nhiệt trừ thấp, thông lạc chỉ thống. Trong bài các vị Nhẫn đông đằng, Lạc thạch đằng, Thanh phong đằng một là có tính mát, có công dụng là thanh lương giải độc. 2 là dây dễ nhập lạc thông kinh có công dụng là hoạt lạc định thống; Thổ phục linh, Bại tương thảo, Lão hạc đằng đều có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi thủy tiêu thủng. Các thuốc cùng dùng cùng có tác dụng thanh nhiệt giải độc, khu phong trừ thấp, thông lạc chỉ thống.

Bài 2: Hy thiêm ý linh trà

Bài thuốc:

Hy thiêm thảo 20g, Ý dĩ nhân 20g, Thổ phục linh 30g.

Chủ trị:

Chữa thấp khớp các khớp sưng nóng đỏ đau, vận động khó khăn, miệng môi khô, lưỡi đỏ, mạch sác.

Công hiệu:

Khu phong thấp, lợi quan tiết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống. Hoặc có thể hầm chung với xương heo lấy nước uống.

Cấm kỵ:

Người vị hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Hy thiêm thảo vị cay đắng có tác dụng tẩu soán khai tiết, khu phong thấp, kháng viêm. Sách “Bản thảo chính nghĩa” cho rằng “thường các chứng đau nhức thuộc phong hàn thấp nhiệt, uống nhiều sẽ thu được kết quả, thực là vị thuốc tốt trong các vị thuốc rẻ tiền”.Nghiên cứu của dược lý hiện đại nêu rỏ Hy thiêm thảo có tác dụng kháng viêm, ức chế các khớp sưng đau, làm giảm đau. Ý dĩ nhân có tác dụng thanh lợi thấp nhiệt, Thổ phục linh có tác dụng lợi thấp tả trọc. Các vị cùng dùng vừa hoạt lạc mà lợi quan tiết, vừa có thể lợi thấp tiêu viêm chỉ thống. Các khớp sưng đau rõ gia Nhẫn đông đằng 20g, để thông lạc thanh thấp nhiệt; Do nhiệt mà đau gia  Đơn sâm 15g, Xích thược 12g để hoạt huyết lương huyết chỉ thống. Các khớp sưng đau nhiều thì dùng bả thuốc trên thêm Bồ công anh 100g, sắc lấy nước dùng khăn lông nhúng vào nước thuốc đắp vào chổ đau.

Bài 3: Ngân địa trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 30g, Sinh địa hoàng 20g, Đơn sâm 15g, Bạch hoa xà thiệt thảo 20g, Lộc hàm thảo 15g, Bạch thược 30g, Tỳ giải 20g.

Chủ trị:

Chữa thấp khớp thấy các khớp đỏ nóng như nước sôi, đau như dùi đâm, chối nắn, hoặc phát sốt, người bứt rức, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết thông tý.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 4 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén. Chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Đau khớp thể hàn thấp hoặc tỳ vị hư hàn thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Thống phong phần nhiều là do thấp tà và nhiệt độc giằng co ở khớp, thấp hỏa lưu chú ở khớp thì sưng nóng đỏ, đau như dùi đâm. Bệnh phát mau phát triển lẹ hoặc có thể có các triệu chứng toàn thân như phát sốt người bứt rức, chữa nên thanh nhiệt giải độc. Thống tý thì chỉ thống. Trong bài kim ngân hoa, sinh địa hoàng, Bạch hoa xà thiệt thảo, Lộc hàm thảo đều có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm chỉ thống; Đơn sâm hoạt huyết hóa ứ chỉ thống; Bạch thược hoãn cấp chỉ thống; Tỳ giải khu thấp lợi quan tiết. Các vị cùng dùng vừa có thể thanh nhiệt lợi thấp, vừa thông lạc chỉ thống.

NHI KHOA

THỦY ĐẬU (Trái rạ)

Bài 1: Ngân cam trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 12g, Cam thảo 3g.

Chủ trị:

Chữa trái rạ chứng còn nhẹ, xuất hiện các chứng phát sốt hoặc không phát sốt, chảy nước mũi, màu sắc đỏ tươi, mọng nước, tròn thưa đồng thời thấy ngứa, rêu mỏng, mạch phù.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều, uống liên tục 2-3 ngày.

Cấm kỵ:

Cử ăn thịt trâu, bò, thăng lưng heo (猪腰). Trẻ suy nhược tiêu lỏng thì thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Trái rạ thời kỳ đầu, các triệu chứng còn nhẹ phần nhiều do phong nhiệt kèm thấp chữa nên thanh nhiệt giải độc. Kim ngân hoa vị ngọt tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt giải độc. Sách “Bản thảo chánh” nói rằng: “Kim ngân hoa giỏi về hóa độc, cho nên dùng chữa ung nhọt thủng độc, sang dượng dương mai, là vị thuốc quan trọng chữa các loại thấp độc”. Nghiên cứu dược lý hiện đại nêu rõ: Kim ngân hoa có tác dụng giải nhiệt rõ rệt, ức chế viêm thấm xuất, tăng sinh, thúc đẩy khả năng thực bào của bạch cầu. Cam thảo trợ kim ngân hoa để thanh nhiệt giải độc đồng thời hòa giải. Cả 2 vị dùng chung với nhau có tác dụng thúc đậu mọc được thông suốt. Ngoài ra có thể dùng Kim ngân hoa, Lá trà xanh đều 50g, nấu lấy nước bỏ bả tắm toàn thân để hổ trợ trái rạ mọc thông suốt.

Bài 2: Hoa đà thủy đậu trà

Bài thuốc:

Sài hồ 6g, Kiết cánh 5g, Phục linh 10g, Cam thảo 3g, Đạm trúc diệp 6g, Đăng tâm thảo 3 cọng.

Chủ trị:

Chữa thủy đậu thấy sốt nhẹ, người bứt rức, đậu mới phát, mụn nước còn trong, môi đỏ, lưỡi đỏ, chỉ tay tím

Công hiệu:

Sơ phong thanh nhiệt, giải độc khử thấp.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống, uống liên tiếp 2-3 ngày.

Cấm kỵ:

Cử ăn các loại “phát” vật.

Lời bình:

Phong nhiệt tà độc phạm vào phế vệ cùng giao tranh với thấp. Thấp và nhiệt cùng hun đốt ở cơ phu mà sinh ra thủy đậu. chữa nên sơ phong thanh nhiệt, lợi thấp làm chủ. Trong bài Sài hồ, Kiết cánh có tác dụng sơ phong thanh nhiệt tuyên phế; Phục linh, Đạm trúc diệp lợi thủy thấm thấp; Đăng tâm hoa tả hỏa giải độc; Cam thảo giải độc mà điều hòa các vị thuốc. Nếu có đàm gia Thiên hoa phấn 6g; Thực tích gia Sơn tra 6g, Mạch nha 15g; Tâm hỏa thịnh gia Mạch môn 6g.

Bài 3: Thanh lương tiêu đậu trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 6g, Liên kiều 6g, Sinh địa hoàng 10g, Thổ Phục linh 10g, Ý dĩ nhân 10g, Cam thảo 3g.

Chủ trị:

Chữa chứng thủy đậu thể thấp nhiệt thịnh. Các thấy là sốt, phiền khát, mặt đỏ miệng khô, thủy đậu mọc dày, sắc tím sậm, mụn nước đục, hoặc chân răng sưng đau, cầu khô, tiểu vàng, rêu vàng dày, chỉ tay tím hoặc mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Lương huyết thanh nhiệt, giải độc khử thấp.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn thì không chọn dùng bài này.

Lời bình:

Nhiệt tà nhập lý cùng với thấp nhiệt độc tà uất ở huyết phận, phát sinh chứng thủy đậu. Trong bài Kim ngân hoa, Liên kiều có tác dụng thanh nhiệt giải độc; Sinh địa hoàng thanh dinh lương huyết giải độc; Thổ phục linh, Ý dĩ nhân thanh nhiệt lợi thấp; Cam thảo trợ các vị thuốc thanh giải và điều hòa các vị thuốc. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt giải độc; lợi thấp lương huyết, dùng chữa thủy đậu thời kỳ nặng. Sau khi sắc thuốc có thể lấy bả thuốc gia Bồ công anh 30g, Khổ sâm 30g, Hoàng bá 30g, Nhẫn đông đằng 30g. Sắc lấy nước lọc bỏ bả để nguội bớt rữa chổ bệnh để giúp thanh nhiệt giải độc chỉ dượng và thúc thủy đậu mau kết mài. Đạt được kết quả như ý. Nước thuốc dùng để rửa ngoài không  cần pha thêm nước để phòng ngừa cảm nhiễm thủy đậu.

MA CHẨN (sởi)

Bài 1: Liên bản trà

Bài thuốc:

Liên kiều 10g, Bản lam căn 15g.

Chủ trị:

Phòng ngừa sởi.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống, uống liên tục 3 ngày.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư nhược thì thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Trung y cho rằng nguyên nhân phát sinh sởi là do ma độc thời tà xâm nhập vào cơ thể gây ra. Trong bài Bản lam căn có tác dụng thanh nhiệt giải độc, kháng viêm, kháng virus; Liên kiều ngoài tác dụng thanh nhiệt giải độc ra còn có thể tăng cường tính miễn dịch của cơ thể. Cả 2 cùng dùng có tác dụng thanh nhiệt giải độc, dùng phòng ngừa sởi có hiệu quả nhất định.

Bài 2: Cát căn thấu chẩn trà

Bài thuốc:

Cát căn 10g, Kim ngân hoa 10g, Thuyền thoái 5g, Tử thảo 5g, Thăng ma 3g, Cam thảo 3g.

Chủ trị:

Sởi mọc thưa không thông, thấy sốt nhẹ hoặc không sốt, môi đỏ, lưỡi đỏ, mạch sác.

Công hiệu:

Sơ phong thấu chẩn.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia ra 2 lần uống ấm, sởi mọc qua khỏi rốn thì ngưng thuốc.

Cấm kỵ:

Trẻ phế hư, tỳ vị hư hàn thì thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Sởi lấy sự thấu suốt (từ trên xuống dưới) là thuận, ngược lại mọc không thông suốt (sởi mọc giữa chừng thì ngưng hoặc hãm vào bên trong) là không thuận. Nên sơ phong giải biểu, thanh nhiệt thấu chẩn. Trong bài Kim ngân hoa có tác dụng thanh nhiệt giải độc; Cát căn có tác dụng thăng dương giải cơ là vị thuốc quan trọng để thúc sởi mọc; Thuyền thoái, Thăng ma có tác dụng sơ phong giải biểu, Tử thảo có tác dụng lương huyết thấu chẩn; Cam thảo điều hòa chư dược đồng thời thanh nhiệt giải độc. Các vị thuốc cùng dùng có thể làm cho sởi được thông suốt mà thanh nhiệt độc. Nếu mọc không thông thì ngoài việc uống thuốc ra còn có thể dùng Hạt Ngò 500g nấu lấy nước tắm toàn thân để giúp sởi mọc được thông suốt. Nguyên tuy còn có tên gọi là hương thái tính của nó là thăng tán thấu triệt làm cho sởi mọc thông suốt ra ngoài. Do nó có chứa tinh dầu dễ bay hơi cho nên khi dùng Nguyên tuy thì không nên nấu lâu chỉ cần vừa sôi vài phút là tắt lữa nhắc xuống.

Bài 3: Nhị sâm mạch địa trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 10g, Sa sâm 15g, Mạch môn 15g. Sinh địa hoàng 15g.

Chủ trị:

Chữa sởi thời kỳ hồi phục, các triệu chứng xuất hiện như sốt nhẹ, ho, môi đỏ, người bứt rứt, đêm ngủ không yên, tiểu vàng, lưỡi đỏ chỉ tay tím.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lương huyết, dưỡng âm sinh tân.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén Chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Trẻ tỳ vị hư nhược, tiêu chảy thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Sởi vào thời kỳ cuối, phần nhiều tà suy thì chánh khí cũng hư, nên phò chánh ích khí dưỡng âm là chánh. Trong bài Thái tử sâm ích khí dưỡng âm sinh tân là vị thuốc tốt để điều bổ phần âm bị tổn thương do sốt ở trẻ em; Sinh địa hoàng có tác dụng lương huyết dưỡng âm sinh tân để thanh dư nhiệt; Sa sâm, Mạch môn dưỡng âm nhuận phế để tăng dịch. Các vị hợp dùng chữa sởi thời kỳ hồi phục thấy sốt nhẹ, ho.v.v.như ho nhiều gia Thiên hoa phấn 6g, Xuyên bối mẫu 6g để thanh hóa nhiệt đàm; ăn uống không ngon gia Cốc nha, Mạch nha đều 15g để khai vị tiêu thực; Đại tiện khô gia Hạnh nhân 6g để tuyên phế thông tiện.

VIÊM QUAI BỊ

Bài 1: Lam hạ thanh giải trà

Bài thuốc:

Bản lam căn 10g, Hạ khô thảo 10g, Bồ công anh 10g. Liên kiều 10g, Kim ngân hoa 10g.

Chủ trị:

Chữa chứng viêm quai bị thuộc thấp độc ở biểu. chứng thấy hơi sốt nhẹ, 1 bên hoặc 2 bên quai hàm sưng đau, hoặc có họng đỏ, rêu lưỡi hơi vàng, chất lưỡi đỏ, mạch phù sác.

Công hiệu:

Sơ phong tán kết, thanh nhiệt giải độc.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 2 chén rưỡi sắc còn ½ chén, nước nhì đổ 1 chén rưỡi, sắc còn ½ chén hòa chung 2 nước lại chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Trẻ tỳ vị hư hàn thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Quai bị phát sinh là do nhiễm phong ôn tà độc hoặc bên trong có tích nhiệt uất kết, 2 tà tương kết với nhau làm cho kinh mạch bị tổn thương, ngưng kết cục bộ, cho nên gây ra sưng đau 1 bên hoặc 2 bên. Chữa nên thanh nhiệt giải độc, sơ phong tán kết. Trong bài Kim ngân hoa, Liên kiều có tác dụng thanh nhiêt giải độc; Bản lam căn, Bồ công anh kháng virus để tiêu viêm; Hạ khô thảo, Kim ngân hoa, Bồ công anh có thể giải độc tán kết tiêu thủng. Các vị cùng dùng vừa thanh nhiệt giải độc vừa tán kết tiêu thủng. Dùng chữa viêm quai bị thời kỳ đầu các triệu chứng còn nhẹ, cũng có thể dùng để phòng ngừa viêm quai bị. Táo bón gia Đại hoàng 5g (cho vào sau); Quai bị sưng nhiều thì gia Hải tảo 6g, Quai bị sưng nhức thì dùng bột Thanh đại hòa với giấm thoa chổ sưng. Cũng có thể dùng đường tán giã chung với Lô hội hoặc Tiên nhân chưởng đắp vào chổ đau, để làm cho chổ sưng mau xẹp và giảm nhẹ đau nhức.

Bài 2: Tán kết trà

Bài thuốc:

Thanh thiên quỳ 10g, Miêu trảo thảo 10g, Bản lam căn 15g, Sinh địa hoàng 10g, Thổ phục linh 20g.

Chủ trị:

Chữa viêm quai bị với các triệu chứng như sốt người bứt rức, miệng khát, vùng mang tai sưng đau, cứng chắc ấn vào đau, nhai nuốt khó khăn, họng sưng đỏ đau, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc nhuyễn kiên tán kết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 2,5 chén nước sắc còn ½ chén. Nước nhì đổ 1,5 chén sắc còn ½ chén hòa chung 2 nước lại chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn cầu phân sệt thì không chọn dùng bài này.

Lời bình:

Tà nhiệt nhập lý, nhiệt độc thịnh cho nên thấy sốt cao người bức rức khát nước; nhiệt càng cao thì độc càng nhiều, nhiệt độc ứ ở kinh lạc gây uất ở mang tai nên vùng mang tai đau ấn vào đau, làm ảnh hưởng đến việc nhai nuốt, lưỡi đỏ rêu vàng mạch hoạt sác, đều là hiện tượng do nhiệt độc hun đốt chữa nên thanh nhiệt giải độc, nhuyễn kiên tán kết. Trong bài Thanh thiên quỳ có tác dụng

HẠ QUÝ NHIỆT (Sốt vào mùa hè)

Bài 1: Sâm mạch thanh thử trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 10g, Mạch môn 10g, Đạm trúc diệp 6g, Lá Sen ½ lá, Thuyền thoái 6g.

Chủ trị:

Dưỡng âm thanh nhiệt, thoái hưnhiệt.

Công hiệu:

Chữa trẻ em cứ vào mùa hè thì sốt không dứt, miệng khát uống không dứt, mồ hôi ít hoặc không mồ hôi, lòng bàn tay chân nóng, lưỡi đỏ, rêu ít chỉ tay tím, mạch sác.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 4 chén nước thêm mật táo 3 trái, tiễn thành 2 chén uống thay nước trà hoặc bỏ Đạm trúc diệp gia Đông qua 250g, Tây qua 250g, thịt nạc heo hầm lấy nước uống.

Cấm kỵ:

Trẻ dương khí hưkhông nêm chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bệnh này phát sinh là do thử nhiệt uất kết ở phế vị, hun đốt bì mao, da dẻ bị vít lấp làm cho khí hao tân dịch bị tổn thương mà phát sinh bệnh. Trong bài Thái tử sâm, Mạch môn có tác dụng ích khí dưỡng âm sinh tân; Đạm trúc diệp, Lá Sen có tác dụng thanh giải thử nhiệt; Thuyền thoái mở tấu lý mà sơphong thanh nhiệt. Các vị hợp dùng vừa có tác dụng thanh thử thoái nhiệt vừa bảo dưỡng phế vị âm. Thêm Đông qua, Tây qua và thịt nạc heo hầm lấy nước uống để có thể tăng cường dinh dưỡng, lại dễ ăn.

Bài 2: Đông tây nam bắc trà

Bài thuốc:

Vỏ Bí đao 10g, Vỏ xanh dưa hấu 10g, Nam Hạnh nhân 6g, Bắc Hạnh nhân 6g.

Chủ trị:

Chữa mùa hạ sốt kéo dài không dứt, kèm thấy ho.

Công hiệu:

Thanh thử thoái nhiệt, tuyên phế chỉ khái.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước thêm mật táo sắc còn 1 chén chia 2 lần uống hoặc thêm 150g thịt nạc heo hầm lấy nước uống.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hưhàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Vỏ Bí đao có tác dụng thanh thử lợi thủy; Vỏ xanh của dưa hấu có tác dụng giải thử thanh nhiệt; Nam bắc Hạnh nhân tuyên phế chỉ khái. 4 vị cùng dùng có tác dụng thanh thử thoái nhiệt, tuyên phế chỉ khái.

Bài 3: Thanh thử sinh tân trà

Bài thuốc:

Tây dương sâm 3g, Mạch môn 10g, Đăng tâm hoa 6 cọng, mật táo 3 trái, gạo trắng 1 nắm nhỏ.

Chủ trị:

Chữa trẻ vào mùa hè phát sốt không dứt, mặt trắng, tinh thần mệt mõi, lòng bàn tay chân hâm hấp, miệng khát uống nhiều mà ít mồ hôi hoặc không mồ hôi, người lừ đừ, cầu bón, tiểu lắt nhắt, chỉ tay đỏ tím.

Công hiệu:

Ích khí thanh thử, dưỡng âm sinh tân

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang bệnh nặng ngày 2 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia ra uống 2 lần lúc ấm.

Cấm kỵ:

Trẻ tỳ vị hưhàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Tây dương sâm có tác dụng thanh nhiệt ích khí sinh tân để phò chính khí; Mạch môn dưỡng âm sinh tân để bổ tân dịch bị hao do sốt kéo dài, Đăng tâm hoa thanh tâm trừ phiền; Mật táo có tác dụng nhuận táo; gạo tẽ để hòa vị lợi hấp thu. các vị phối hợp với nhau đối với thử nhiệt thương tân, khí âm lưỡng hưcủa mùa hạ thì càng thích hợp.

BÁCH NHẬT KHÁI (Ho gà)

Bài 1: Bách bộ tang hạnh trà

Bài thuốc:

Bách bộ 9g, Tang diệp 10g, Cúc hoa 10g, Hạnh nhân 6g, Cam thảo 3g.

Chủ trị:

Chữa ho giai đoạn đầu, các triệu chứng thấy phát sốt, ho từng cơn, đàm vàng hoặc dính, họng đỏ, chất lưỡi đỏ, chỉ tay tím đỏ.

Công hiệu:

Sơ phong thanh nhiệt, chỉ khái hóa đàm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Trẻ bị ho gà thể phong hàn thúc phế thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Ho gà thời kỳ đầu là do phong nhiệt tà xâm nhập phế, chữa nên sơphong thanh phế, chỉ khái hóa đàm. Trong bài Bách bộ có tác dụng ức khuẩn, tuyên phế chỉ khái; Tang diệp, Cúc hoa vị ngọt mát có tác dụng sơphong tuyên phế, thanh nhiệt chỉ khái; Hạnh nhân tuyên phế hóa đàm; Cam thảo điều hòa chưdược. Các vị hợp dùng có tác dụng sơphong tán tà làm cho phế nhiệt được thanh, tuyên phế hóa đàm mà chỉ khái. Nếu ho nhiều gia tiền hồ 6g để tuyên phế chỉ khái; Đàm nhiều vàng đặc thì gia Xuyên bối mẫu 6g, Thiên trúc hoàng 6g để thanh nhiệt hóa đàm.

Bài 2: Tử hoàng định khái trà

Bài thuốc:

Tử uyển 6g, Hoàng tinh 10g, Bách bộ 6g, Xạ can 6g, Bách hợp 10g, Cam  thảo 3g.

Chủ trị:

Chữa ho gà ho từng cơn, khi ho thì mặt mày đỏ gay, sau khi ho có tiếng rít của đàm, đàm ít.

Công hiệu:

Nhuận phế giải kinh, hóa đàm chỉ khái.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén, chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Trẻ ho gà thể phế hưkhí nhược thì không dùng bài này.

Lời bình:

Bách nhật khái là một bệnh truyền nhiễm cấp với các triệu chứng đặc trưng ho gây co giật từng cơn đồng thời kèm theo tiếng khò khè của đàm nhưtiếng rít của gà nguyên nhân là do trực khuẩn ho gà sinh ra. Chữa nên kháng khuẩn, phù chính, chữa tiêu (triệu chứng). Trong bài Hoàng tinh, Xạ can, Bách bộ đều có tác dụng ức chế khuẩn ho gà, các vị cùng dùng có tác dụng tăng cường sự phối hợp của thuốc; Bách hợp có tác dụng nhuận phế giải kinh dưỡng âm, dùng để phò chính khí; Tử uyển khu đàm, làm cho đàm dễ khạc, ho tự giảm, dùng để trị tiêu(triệu chứng); Cam thảo hoãn cấp hòa trung, các vị cùng dùng vừa kháng khuẩn tiêu viêm, lại nhuận phế chỉ khái đạt được công hiệu tiêu bản đồng trị. Bài này có thích hợp chữa các chứng ho gà giai đoạn đầu, cũng thích hợp chữa chứng co giật sau khi ho. Ho lâu ngày sẽ làm cho tân dịch bị tổn thương mà sinh ra chứng phế táo.

Bài 3: Bách bộ tang địa trà

Bài thuốc:

Bách bộ 10g, Tang bạch bì 10g, Địa long 6g, Cam thảo 3g,

Chủ trị:

Chữa ho gà thấy ho từng cơn, trong họng có tiếng đàm như tiếng rít của gà, đờm vàng, lưỡi đỏ mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Thanh phế giáng nghịch, hóa đờm chỉ khái.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Phế khí hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Bách bộ có tác dụng giáng phế khí mà chỉ khái, đối với chứng co giật khi ho càng có công hiệu, là vị thuốc quan trọng dùng để chữa ho lâu ngày và ho gà; Tang bạch bì có tác dụng thanh phế nhiệt để chỉ khái hóa đàm; Địa long có tác dụng giải co thắt, thông lạc; Cam thảo có tác dụng điều hòa các vị thuốc. Các vị hợp dùng có công dụng tuyên phế giải kinh, hóa đờm liệu khái. Đờm nhiều màu vàng gia Ngư tinh thảo 10g, để tuyên phế điều đàm; Ho khan gia Mạch môn 10g, Bách hợp 10g, để nhuận phế chỉ khái; Trong họng có tiếng đàm nặng gia Xạ can 6g, Phục linh 15g, để giải kinh lợi thấp hóa đàm.

TRẺ BỊ VIÊM PHỔI

Bài 1: Kim ngư xuyên bối trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 10g, Ngư tinh thảo 12g, Xuyên bối mẫu 6g, Cam thảo 5g.

Chủ trị:

Chữa viêm phổi do virus thấy phát sốt miệng khát, ho đàm vàng, cánh mũi phập phồng, đau họng, mũi đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác.

Công năng:

Thanh nhiệt tuyên phế chỉ khái hóa đàm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm. Cũng có thể dùng Ngư tinh thảo 20g, Xuyên bối mẫu 10g, thêm thịt nạc heo hoặc xương heo 250g, mật táo 3 trái, hầm lấy nước uống.

Cấm kỵ:

Trẻ viêm phổi thuộc phong hàn, phế hư thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Viêm phổi do virus là chứng bệnh do phổi bị nhiễm các loại virus mà sinh ra. Trung y cho rằng bệnh này do phong nhiệt tà xâm nhập vào phổi, dẫn đến phế mất chức năng tuyên giáng, nhiệt đốt ở bên trong mà gây ra. Chữa nên sơ phong tuyên phế, chỉ khái hóa đàm. Trong bài Ngư tinh thảo có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hóa đàm chỉ khái, đối với phế nhiệt, ho suyễn, đàm vàng có tác dụng chữa trị rất tốt; Kim ngân hoa có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa; Xuyên bối mẫu có tác dụng hóa đàm tán kết, chuyên chữa đàm suyển nhiệt khái; Cam thảo có tác dụng điều hòa các vị thuốc. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt chỉ khái, tuyên phế hóa đàm.

Bài 2: Ma hạnh thanh hoàng trà

Bài thuốc:

Ma hoàng 3g, Hạnh nhân 10g, Thạch cao 20g, Thanh thiên quỳ 6g, Hoàng cầm 6g, Cam thảo 3g.

Chủ trị:

Chữa trẻ bị viêm phổi thuộc đàm nhiệt bế tắc ở phế. Chứng thấy sốt cao người bức rức, khò khè, đàm nhiều, cánh mũi phập phồng, tím tái thấy rõ, miệng khát họng đỏ, tiểu vàng, cầu bón, rêu lưỡi vàng dày, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Tuyên phế hóa đàm chỉ khái bình suyễn.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Chữa phong hàn nhiễm phế và phế khí hư thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Ma hoàng tuyên phế định suyễn, làm giãn phế quản; Hạnh nhân giáng khí nhuận phế chỉ khái, Hổ trợ Ma hoàng phát huy tác dụng bình suyễn; Thạch cao thanh tiết phế nhiệt; Thanh thiên quỳ thanh giải thoái nhiệt, hổ trợ Thạch cao tuyên phế tán nhiệt; Hoàng cầm thanh phế táo thấp; Cam thảo hoãn cấp lợi yết hầu. Các vị cùng dùng có tác dụng thanh phế hóa đàm, chỉ khái bình suyễn. Dùng chữa chứng viêm phổi thuộc đàm nhiệt bế tắc ở phổi. Đàm nhiều kết ở phổi gia Xuyên bối mẫu 6g. Thiên trúc hoàng 6g để thanh hóa nhiệt đàm; Cánh mũi phập phồng nhiều gia Địa long 8g, Cương tàm 8g, để giải kinh thông tuyên phế khí.

Bài 3: Sa Mạch bách hoa trà

Bài thuốc:

Sa sâm 10g, Mạch môn 10g, Bách hợp 10g, Thiên hoa phấn 6g, Địa cốt bì 6g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa chứng viêm phổi thời kỳ cuối thuộc thể chứng âm hư. Thấy sốt nhẹ dây dưa,  khát nước, chót lưỡi đỏ, mạch tế sác, chỉ tay lặn mà tím.

Công hiệu:

Dưỡng âm nhuận phế chỉ khái.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 4 chén nước sắc còn 2 chén uống thay nước trà.

Cấm kỵ:

Trẻ phế hư cầu phân sệt thì không chọn dùng bài này.

Lời bình:

Viêm phổi thời kỳ cuối phần nhiều biểu hiện là khí âm hao tổn, chính khí chưa hồi phục, dư tà còn lưu. Chữa nên dưỡng âm thanh phế. Trong bài Sa  sâm, Mạch môn, Bách hợp có tác dụng dưỡng âm nhuận phế; Thiên hoa phấn ích âm sinh tân; Địa cốt bì có tác dụng dưỡng âm thoái hư nhiệt; Mật táo vị ngọt có tác dụng nhuận phế táo. Các vị cùng dùng có tác dụng dưỡng âm nhuận phế phù chính, lại kiêm thanh dư nhiệt, là bài thuốc hay để chữa viêm phổi thời kỳ cuối và điều chỉnh sau khi khỏi. Khí âm lưỡng hư mồ hôi nhiều gia Thái tử sâm 10g, Phù tiểu mạch 12g, ăn uống kém gia Bố tra  diệp 6g; Người bức rức gia Đăng tâm thảo 5 cọng, Hài nhi thảo 8g.

KHÓC ĐÊM

Bài 1: Thanh tâm trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 10g, Đạm trúc diệp 5g, Đăng tâm hoa 5 cọng, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa trẻ khóc đêm thuộc tâm hỏa vượng chứng thấy tiếng khóc vang dội, trẻ bức rứt không yên, nhiều mồ hôi, mặt môi đỏ, tiểu vàng tiện bí, chót lưỡi đỏ, chỉ tay tím.

Công hiệu:

Thanh tâm tả nhiệt.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 150ml nước sắc còn 50ml chia làm 2 lần uống dần.

Cấm kỵ:

Trẻ suy nhược tiêu chãy không dùng bài này.

Lời bình:

Thai nhiệt uất tích ở tâm kinh, tâm hỏa thượng viêm cho nên gây phiền táo không yên, về đêm thì khóc. Chữa nên thanh tả tâm hỏa. Trong bài Sinh địa hoàng thanh nhiệt lương huyết dưỡng âm; Đạm trúc diệp bên trên thì thanh tâm hỏa để tán nhiệt, bên dưới thì lợi tiểu tiện để thấm thấp, lại có thể trừ phiền; Đăng tâm hoa thanh tâm trừ phiền, dẫn nhiệt hạ hành; Mật táo cam nhuận lại điều giảm dược vị, để dễ uống, làm cho trẻ dể tiếp thu.

Bài 2: Thiền cúc đăng tâm trà

Bài thuốc:

Thiền thoái 3 con, Cúc hoa 3g, Đăng tâm hoa 3 cọng, Mật táo 1-2 trái.

Chủ trị:

Trẻ khóc đêm, phiền táo không yên, môi đỏ, sống mũi xanh tím, gò má đỏ.

Công hiệu:

Sơ phong thanh tâm tả hỏa.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 150ml nước sắc còn 50ml uống dần.

Cấm kỵ:

Trẻ tỳ hư không nhiệt không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Thuyền thoái là vị thuốc hay để chữa bệnh trẻ em, vị ngọt tính hàn có tác dụng sơ phong thanh  nhiệt. Các nghiên cứu của dược lý hiện đại phát hiện  Thuyền thoái có tác dụng trấn tỉnh, giải nhiệt, chống co giật, đối với trẻ em có các chứng phát sốt, khóc đêm, co giật thì có hiệu quả nhất định. Cúc hoa khinh thanh tán nhiệt, Đăng tâm hoa thanh tâm trừ phiền. Mật táo ngọt nhuận làm giảm các vị đắng của thuốc. Các vị cùng dùng có công  dụng thanh tâm hỏa, sơ phong nhiệt. Nếu kèm thấy có thực tích gia Cốc nha, Mạch nha đều 10g. Phiền táo gia Hài nhi thảo 6g.

CAM TÍCH

Bài 1: Cam tích trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 10g, Đăng tâm hoa 10 cọng, Mạch nha 20g, Hài nhi thảo 10g, Độc cước kim 6g, Mật táo 3 trà.

Chủ trị:

Tích trệ lâu ngày, cam tích mới phát mà thấy mặt vàng bắp thịt teo róc, lông tóc thưa, tinh thần không phấn chấn, lòng bàn tay bàn chân nóng, bứt rức dễ quấy khóc, trên đầu nhiều mồ hôi, đêm ngủ không yên, nghiến răng, chỉ tay trệ.

Công hiệu:

Tiêu tích giải cam.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 2 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Cam tích thấy tỳ khí hư nhược, không có nhiệt thì thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Người xưa có nói rằng “tích là mẹ của cam”, “vô tích bất thành cam”. Cũng là nói do ăn uống không điều độ, hoặc ăn quá nhiều các thức ăn ngọt béo, làm tổn thương tỳ vị, chức năng vận hóa thất thường thì sinh ra tích trệ, tích lâu sinh ra nhiệt, nhiệt đốt làm tân dịch bị tổn thương, phát ra cam tích. Chữa nên tiêu tích giải cam. Trong bài Thái tử sâm ích khí sinh tân, Đăng tâm hoa thanh tâm hỏa; Mạch nha tiêu thực đạo trệ; Hài nhi thảo thanh can tiêu cam, lợi thấp tiêu thực; Độc cước kim thanh can tiêu cam kiện tỳ tiêu thực; Mật táo ngọt nhuận mà làm giảm vị đắng của các vị thuốc. Các vị cùng dùng có tác dụng tiêu tích hóa thực, thanh can lý tỳ, làm cho tỳ vị được lý, chứng cam được giải.

Bài 2: Thanh cam tiêu tích trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 10g, Mạch môn 10g, Cốc nha 15g, Mạch nha 15g. Sơn tra 8g.

Chủ trị:

Chữa chứng cam thấy chán ăn, không thiết ăn uống, ợ hơi, bụng trướng đau, người gầy ốm, bức rức, ra mồ hôi hoặc sốt nhẹ hoặc lòng bàn tay nóng, chỉ tay tím.

Công hiệu:

Ích khí tiêu thực đạo trệ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 2 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Chứng cam không có tích nhiệt thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Tiền Ất 1 thầy thuốc nổi tiếng đời nhà Tống nói rằng: “các chứng cam đều là bệnh của tỳ vị, sinh ra chứng mất tân dịch”. Phát sinh ra bệnh cam tích mấu chốt là ở tỳ vị. Trong bài Thái tử sâm có tác dụng ích khí sinh tân kiện tỳ; Mạch môn dưỡng âm sinh tân; Cốc nha, Mạch nha, sơn tra tiêu thực đạo  trệ. Các vị cùng dùng thì có tác dụng sinh tân hòa vị, tiêu thực đạo trệ.

CHÁN ĂN

Bài 1: Khai vị trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 10g, Mạch nha 15g, Đăng tâm hoa trà 5 cọng, Sơn dược 10g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa trẻ bình thường ăn không biết ngon, không thiết ăn uống. Cũng có thể làm bài thuốc khai vị tiêu trệ hằng ngày cho trẻ.

Công hiệu:

Chữa trẻ chán ăn.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm. Cũng có thể thêm Mề gà để lâu năm 1cái, thịt nạc heo 100g, hầm lấy nước uống.

Cấm kỵ:

Trẻ chán ăn do tỳ vị khí hư thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

“ẩm thực tự bồi trường vị sẽ tổn thương”. Do dinh dưỡng không thỏa đáng, hoặc ăn quá nhiều chất béo bổ nồng hậu làm cho thực tích ở bên trong nên gây ra chán ăn, lừ đừ không muốn ăn. “Huyết chứng luận” nói rằng: “tỳ tân khô ít, không thể tiêu hóa nghiền nát thủy cốc, là dễ sinh ra ăn không tiêu”. Chữa nên dục âm kiện tỳ. Trong bài Thái tử sâm có vị ngọt tính bình có tác dụng ích khí sinh tân. Phối hợp với Sơn dược để tư dưỡng tỳ âm; Mạch nha kiện vận tỳ khí, hóa thực tiêu tích; Đăng tâm hoa có tác dụng thanh tâm trừ phiền. Các vị cùng dùng có công dụng dục âm kiện tỳ.

Bài 2: Song mạch trà

Bài thuốc:

Mạch nha 20g, phù tiểu mạch 15g, Nọa đạo căn 10g, Sơn tra 6g, Bạch thược 6g.

Chủ trị:

Chữa ăn uống không biết ngon, sắc mặt vàng vọt, người ốm, đêm ngủ không yên, nhiều mồ hôi.

Công hiệu:

Đạo trệ liễm hãn.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Phát sốt do cảm thận trọng khi dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Mạch nha, Sơn tra tiêu thực khai vị; Phù tiểu mạch, Nọa đạo căn có tác dụng liễm hãn, Bạch thược nhu can liễm hãn. Các vị cùng dùng có công dụng khai vị tiêu trệ, nhu can liễm hãn.

Bài 3: Kiện vị trà

Bài thuốc:

Trúc nhự 5g, Phục linh 10g, Bố tra diệp 10g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa chứng chán ăn thấy các triệu chứng chán ăn hoặc đến bữa không muốn ăn, lợm giọng, nôn ói hoặc đau bụng, cầu phân sệt, miệng khô hay uống, đêm ngủ không yên, người ốm, sắc mặt không tươi.

Công năng:

Kiện vị chỉ ẩu.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 2 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn, khí hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Chứng Chán ăn chủ yếu lấy chức năng của tỳ vị bị mất điều hòa. Do chức năng của tỳ vị mất điều hòa cho nên thấy chán ăn, nôn mữa, cầu phân sệt.v.v.v. Chữa nên điều tỳ vị, chỉ ẩu. Trong bài Phục linh có tác dụng kiện tỳ thấm thấp chỉ tả; Trúc nhự thanh nhiệt trừ phiền, hòa vị chỉ ẩu; Bố tra diệp tiêu thực đạo trệ. Các vị cùng dùng có công dụng hòa vị kiện tỳ.

Bài 4: Ích âm kiện vị trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 10g, Mạch môn 10g, Đăng tâm hoa 1 cọng, Hài nhi thảo 10g, Cốc nha 15g, Phục linh 10g, Sơn dược 10g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa sau khi phát sốt ăn uống kém, bứt rứt, đêm ngủ không yên hoặc kèm có mồ hôi trộm, môi đỏ, chất lưỡi đỏ, mạch sác.

Công hiệu:

Dưỡng âm kiện tỳ, Khai vị tiêu thực.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Sau khi bệnh phải lấy kiện tỳ ích âm làm chủ, không nên ăn quá nhiều các thức ăn bổ dưỡng, nê trệ.

Lời bình:

Trẻ em tỳ vị còn yếu, sau khi mắc bệnh dễ làm cho tỳ vị bị tổn thương mà gây ra ăn uống kém sút. Nhiệt dễ làm tổn thương âm, âm hư thì thấy trẻ quấy khóc bức rứt, mồ hôi trộm, đêm ngủ không yên. Chữa nên dưỡng âm, ích khí, kiện tỳ, đồng thời kèm có khai vị tiêu thực. Trong bài Thái tử sâm, Mạch môn có tác dụng ích khí dưỡng âm; Phục linh, Sơn dược kiện tỳ lợi thấp; Đăng tâm hoa, Hài nhi thảo thanh tâm tả hỏa; Cốc nha khai vị tiêu thực; Mật táo vị ngọt nhuận để làm giảm bớt vị đắng. Các vị cùng dùng có tác dụng ích khí dưỡng âm, làm cho âm tâm được khôi phục, kiện tỳ tiêu thực, khẩu vị theo đó mà có cảm giác.

TRẺ ĂN KHÔNG TIÊU

Bài 1: Tam tiên trà

Bài thuốc:

Sơn tra 10g, Thần khúc 10g, Mạch nha 20g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa trẻ ăn không tiêu, không thiết ăn uống, trướng bụng, hoặc kèm có ợ hơi, kiết lỵ, rêu vàng nhớt, chỉ tay tím.

Công năng:

Tiêu thực đạo trệ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Nên ăn uống thanh đạm, ăn cháo loãng, thực vật dễ tiêu hóa, kiêng ăn các thức ăn dầu mỡ, thịt Trâu, gan heo

Lời bình:

Trẻ em tạng phũ còn non yếu, tỳ vị dễ bị tổn thương. Ăn uống không điều độ hoặc ăn các thức quá nóng, các thức ăn béo bổ làm ảnh hưởng chức năng tiêu hóa của tỳ vị làm cho trường vị bị tổn thương do thực tích. Chữa nên tiêu thực đạo trệ. Các vị thuốc tiêu thực đạo trệ trong bài là “Tiêu tam tiên” (là chỉ các vị Sơn tra, Thần khúc, Mạch nha tất cả đều sao đen). Trong đó Sơn tra có tác dụng kiện vị tiêu thực, lại có thể ức chế khuẩn có trong đường ruột để chữa tả lỵ, là vị thuốc tốt dùng chữa thương thực tiết tả. Sơn tra nếu để sống có tác dụng hóa ứ hành trệ, sao đen có tác dụng tăng cường công dụng tiêu thực kiện vị, đồng thời vào đường ruột mà tiêu tích chỉ tả. Thần khúc có tác dụng hòa vị tiêu thực. sách “Bản thảo chính” nói rằng: “Thần khúc sao vàng cho vào thuốc để hổ trợ trung tiêu có tác dụng kiện tỳ noãn vị, tiêu thực hạ khí, hóa trệ điều trung,…… các uế khí, cho nên có thể trừ thấp nhiệt, Thần khúc có tính sáp cho nên chỉ tả lỵ”. Mạch nha có tác dụng tiêu thực kiện vị là vị thuốc tốt chuyên tiêu thực tích. Mật táo vị ngọt nhuận làm giảm bớt vị đắng của thuốc. Các vị cùng dùng có công dụng kiện tỳ vị tiêu thực tích, là bài thuốc thần diệu để chữa chứng ăn không tiêu.

Bài 2: Tiêu thực chỉ tả trà

Bài thuốc:

Hỏa thán mẫu 10g, Cốc nha, Mạch nha đều 10g, Thần khúc 10g, Bố Tra diệp 6g, Phục linh 10g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa thương thực phúc tả xuất hiện các chứng không thiết ăn uống, trướng bụng, cầu phân sệt hôi thốihoặc chua nát, kèm có thức ăn không tiêu, lưỡi đỏ, rêu dày nhớt hoặc vàng nhớt, chỉ tay tím.

Công hiệu:

Tiêu thực chỉ tả.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Trẻ tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Thương thực nếu để lâu ngày, thực tích hóa nhiệt thấm xuống đại trường sinh ra tiêu chảy. Chữa nên tiêu thực tích. Thấm thấp chỉ tả. Trong bài hỏa thán mẫu có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp chỉ tả; Cốc nha, Mạch nha, Bố tra diệp có tác dụng tiêu thực; Phục linh kiện tỳ thấm thấp; Thần khúc tiêu thực chỉ tả; Mật táo vị ngọt nhuận làm giảm bớt vị đắng của thuốc. Các vị cùng dùng có công dụng kiện tỳ chỉ tả. tiêu chảy kèm có đau bụng gia Bạch thược 6g để hoảncấp chỉ thống; Kèm có nhiệt gia Liên kiều 9g, để thanh nhiệt ở tam tiêu; quấy khóc gia Đăng tâm hoa 6 cọng để thanh tâm tả hỏa.

Bài 3: Thất tinh trà

Bài thuốc:

Câu đằng 10g, Thuyền thoái 6g, Ý dĩ nhân 10g, Đạm trúc diệp 5g, Cốc nha 15g, Sơn tra 6g, Cam thảo 3g.

Chủ trị:

Chữa trẻ tiêu hóa không tốt, các triệu chứng biểu hiện không thiết ăn uống, đêm ngủ không yên. Quấy khóc, đại tiểu tiện không thông sướng. Lưỡi đỏ rêu dày, chỉ tay tím.

Công hiệu:

Sơ phong thanh nhiệt, tiêu trệ định kinh.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén.

Cấm kỵ:

Tỳ hư không  nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Thất tinh trà là 1 bài trà được dân gian áp dụng dùng để chữa bệnh trẻ em. Trong bài Ý dĩ nhân, Sơn tra, Cốc nha có tác dụng kiện tỳ tiêu thực đạo trệ; Câu đằng, Thuyền thoái sơ phong thanh nhiệt, lại có thể định kinh; Đạm trúc diệp, Cam thảo có tác dụng thanh nhiệt trừ phiền an thần. Các vị cùng dùng vừa có thể tiêu thực đạo trệ, lại thanh nhiệt trừ phiền, an thần định kinh, là bài thuốc hay để chữa trẻ bị thương thực, kinh phong. Các vị thuốc trong bài đều có tính vị bình hòa, dựa vào công dụng và tính chất của các vị thuốc nên được dân gian ứng dụng rất rộng rãi. Nếu ăn không biết ngon có thể gia Mạch nha 15g, Bố tra diệp 6g, để hỗ trợ công hiệu khai vị tiêu thực; Trẻ quấy khóc gia Đăng tâm hoa 10 cọng, Hài nhi thảo 10g, để thanh tâm tả hỏa; Đại tiện khô kết gia Qua lâu nhân 15g, để thông lợi đại tiện; Bú tay, ngoáy mũi, đêm ngủ nghiến răng gia Độc cước kim 6g, Tượng nha ty 6g để tiêu tích.

Bài 4: Dưỡng âm tiêu thực trà

Bài thuốc:

Ngọc trúc 10g, Mạch nha 15g, Mẫu đơn bì 6g, sơn tra 10g, Bạch thược 6g, Sơn tra 6g.

Chủ trị:

Chữa chứng thương thực do can nhiệt thạnh. Các triệu chứng xuất hiện là ăn uống giảm sút, tiêu hóa không tốt, trẻ bức rứt dễ cáu gắt, mặt đỏ, tiểu vàng, lưỡi đỏ, mạch đới trệ.

Công hiệu:

Kiện tỳ tiêu thực, thanh can dưỡng âm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Chứng thương thực do tỳ dương hư thì không dùng bài này.

Lời bình:

ở trẻ em can thường hữu dư, tỳ thường bất túc. Can vị bất hòa mà sinh ra chứng lừ đừ không muốn ăn, tiêu hóa không tốt. Chữa nên kiện tỳ tiêu thực, thanh can dưỡng âm. Các vị thuốc chính trong bài là Mạch nha, Sơn dược, Sơn tra có tác dụng kiện tỳ tiêu thực đạo trệ; Đơn bì thanh can tiết nhiệt; Bạch thược dưỡng âm nhu can; Ngọc trúc dưỡng âm thanh nhiệt. Các vị thuốc cùng dùng có tác dụng kiện tỳ ức can, tiêu trệ dưỡng âm mà các chứng được khỏi.

MỒ HÔI TRỘM

Bài 1: Thái tử nhị mạch trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 10g, Mạch môn 10g, Phù tiểu mạch 20g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa mồ hôi trộm do âm hư thấy sau khi ngủ thì trẻ ra mồ hôi, tỉnh dậy thì dứt mồ hôi, đêm ngủ trẻ vật vã không yên, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác.

Công hiệu:

Ích khí dưỡng âm liễm hãn.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm. cũng có thể dùng Cá Chạch 5-6 con làm sạch nhớt, cho vào nấu cho tơi khi cá có màu vàng kim thì mới cho các vị thuốc vào hầm chung  với cá cho ra nước uống.

Cấm kỵ:

Trẻ dương hư tự hãn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trẻ âm hư phần dương nhiệt tương đối hữu dư, hư hỏa nung nấu âm tân, tân dịch theo hư hỏa thoát ra ngoài cơ thể, sinh ra mồ hôi trộm. Chữa nên dưỡng âm liễm hãn. Trong bài Thái tử sâm dưỡng âm ích khí, cố nhiếp liễm hãn; Mạch môn tư dưỡng âm dịch; Phù tiểu mạch cam lương có công năng chỉ hư hãn, trừ phiền nhiệt, sách “Bản kinh phùng nguyên” cho rằng “có thể liễm mồ hôi trộm, để làm tán nhiệt ở bì phu” Mật táo ngọt nhuận, trợ Thái tử sâm, Mạch môn ngọt nhuận tư âm, lại giúp khẩu vị có vị ngọt thanh, trẻ dễ uống. nếu trẻ vật vã không yên thêm Bạch thược 10g, để nhu can liễm hãn; Mồ hôi trộm nhiều gia nọa đạo căn 8g, Ngũ vị tử 6g, để làm mạnh tác dụng liễm hãn.

Bài 2: Ngũ vị sâm mạch trà

Bài thuốc:

Ngũ vị tử 5g, Thái tử sâm 10g, Phù tiểu mạch 15g, Bạch thược 10g, Đăng tâm hoa 5 cọng, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Âm dịch bị tổn thương sau khi bị sốt thấy trong lúc ngũ ra mồ hôi, thức dậy thì hết, hoặc kèm sau bữa ăn thì sốt cơn, 2 gò má đỏ, ngủ tâm phiền nhiệt, cơ thể gầy , lưỡi hồng hoặc đỏ, mạch tế sác.

Công hiệu:

Dưỡng âm thanh nhiệt, ích khí chỉ hãn.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Trẻ dương hư tự hãn thì không dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Ngũ vị tử, Phù tiểu mạch có tác dụng chỉ đạo hãn; Thái tử sâm có tác dụng dưỡng âm ích khí, cố nhiếp liễm hãn; Đăng tâm hoa có tác dụng thanh tâm giáng hỏa; Bạch thược có tác dụng dưỡng âm liễm hãn; Mật táo ngọt nhuận. Các vị cùng dùng có công dụng làm cho âm dịch tăng mà hư hỏa giáng hư nhiệt được thanh mà đạo hãn liễm. Mồ hôi trộm nhiều thì thêm Hà Long cốt 15g để chỉ đạo hãn, Liễm hư hỏa; trẻ bứt rức vật vã thêm Hài nhi thảo 10g, Toan táo nhân 6g, để an thần liễm hãn.

CẤP KINH PHONG

Bài 1: Sơ phong định kinh trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 6g, Liên kiều 6g, Kiết cánh 6g, Đạm trúc diệp 6g, Câu Đằng 9g, Cương tàm 6g.

Chủ trị:

Chữa kinh phong do cảm phong nhiệt. Cac Triệu chứng xuất hiện là phát sốt, đau đầu, ho chảy nước mũi, họng đỏ, bức rứt, thần chí hôn mê, co giật, rêu lưỡi vàng mõng, mạch phù sác.

Công hiệu:

Sơ phong thanh nhiệt, trấn kinh khai khiếu.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nặng thì ngày 2 thang đổ 2 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Trẻ tỳ vị hư nhược không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Ngoài thì cảm phong tà, bên trongcó tích nhiệt, phong hỏa giao nhau phát ra co giật. Chữa nên sơ phong thanh nhiệt, tức phong chỉ kinh. Trong bài Kim ngân hoa, Liên kiều, Kiết cánh có tác dụng sơ phong thanh nhiệt để tán ngoại tà; Đạm trúc diệp tả hỏa nhiệt bên trong; Câu đằng, Cương tàm thông lạc tức phong chỉ sưu. Các vị thuốc cùng dùng làm cho tà nhiệt được thanh, phong hỏa được yên, mà nhiệt thoái súc giải. nếu co giật nhiều lần thì dùng bài tiểu nhi hồi xuân đơn.

Bài 2: Lương doanh định kinh trà

Bài thuốc:

Thủy ngưu giác 10g, Sinh địa hoàng 10g, Mẫu đơn bì 10g, Câu đằng 10g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa cấp kinh phong thuộc nhiệt hãm trong tâm doanh. Các triệu chứng thấy là thần chí hôn mê tay chân co quắp, thân nhiệt chi lạnh, lòng bàn tay chân nóng hoặc ban chẩn nổi rõ. Lưỡi đỏ tươi, mạch tế sác.

Công hiệu:

Thanh dinh lương  huyết, khai khiếu tức phong.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 2 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Trẻ sốt cao co giật thuộc dương hư, không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bệnh này do tà nhiệt hãm trong tâm doanh mà gây ra, cho nên chữa phải thanh dinh(doanh) lương huyết. Tức phong khai khiếu. Trong bài Sinh địa hoàng, Mẫu đơn bì lương huyết tả hỏa; Thủy ngưu giác, Câu đằng tức phong khai khiếu; Mật táo cam nhuận để tiêu giãm vị đắng của thuốc. các vị hợp dùng, có tác dụng lương huyết tức phong mà định kinh. Bài này thích hợp với chứng kinh phong hãm vào tâm dinh mà cơ nhục phát ra ban chẩn. Chứng hôn mê co giật nặng gia An cung ngưu hoàng hoàn để tức phong khai khiếu.

Bài 3: Quát đàm định kinh trà

Bài thuốc:

Thuyến thoái 6g, Câu đằng 6g, Phục linh 10g, Xuyên bối mẫu 6g, Cương tàm 6g, Toàn yết 2g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa kinh phong đàm diên ủng thịnh. chứng thấy phát sốt, nôn ói, ngủ thấy mở mắt, sắc mặt trắng xanh, tay chân co giật.

Công hiệu:

Quát đàm định kinh.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang bệnh nặng có thể 1 ngày 2 thang, đổ 2 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2-3 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Trẻ mạn kinh phong thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Bài này chủ yếu chữa chứng kinh phong do đàm ủng kết, gây bế tắt kinh lạc mà phát sinh chứng cấp kinh phong. Chữa nên quát đàm thông lạc, định kinh khai khiếu. Trong bài Thuyền thoái, Câu đằng có tác dụng sơ phong định kinh; Phục linh, Xuyên bối mẫu lợi thấp hóa đàm; Toàn yết, Cương tàm tức phong chỉ kinh; Mật táo ngọt nhuận để làm giảm vị đắng của thuốc. Các vị hợp dùng, làm cho đàm dịch được thanh, khiếu lạc được lưu thông. Mà kinh phong được cầm.

NGA KHẨU SANG(ĐẸN)

Bài 1: Thanh nhiệt tiêu tuyết trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 10g, Thổ phục linh 10g, Đạm trúc diệp 3g, Đăng tâm hoa 3 cọng, Cam thảo 2g.

Chủ trị:

Chữa trẻ bị đẹn thuộc thể tâm tỳ tích nhiệt chứng thấy miệng lưỡi nổi 1 lớp trắng, chung quanh ửng đỏ như bị phỏng, lan nhanh, kèm thấy khóc quấy, mặt môi đỏ, cầu bón tiểu đỏ, chót lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác, chỉ tay tím.

Công hiệu:

Thanh tiết tâm tỳ tích nhiệt.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 2 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 – 3 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Cơ thể suy nhược cầu phân sệt thì thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Lưỡi là mầm của tâm, miệng là khiếu của tỳ. Tâm tỳ tích nhiệt, hun đốt ở miệng sinh ra lớp màng trắng gọi là tuyết khẩu. Chữa nên thanh tiết tâm tỳ tích nhiệt. Trong bài Sinh địa hoàng có tác dụng thanh nhiệt dưỡng âm; Thổ phục linh lợi thấp giải độc để tả nhiệt tích ở tỳ; Đạm trúc diệp, Đăng tâm hoa có tác dụng thanh tả tâm hỏa, dẫn nhiệt hạ hành; Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Các vị cùng dùng để thanh nhiệt tích ở tâm tỳ thì tuyết khẩu tự khỏi. Tiện bí không thông thì gia Đông qua nhân 10g để thông phủ tiết nhiệt, đưa tà nhiệt ra ngoài cơ thể; Lớp màng trắng dày thì gia Xương bồ 5g. Trúc nhự 3g để tịch uế hóa trọc. Ngoài bài thuốc trên còn có thể dùng Kim ngân hoa 10g, Cam thảo 6g, sắc lấy nước thoa hoặc súc miệng để làm tiêu lớp màng.

Bài 2: Dưỡng âm tiêu tuyết trà

Bài thuốc:

Tri mẫu 6g, Mạch môn 6g, Mẫu đơn bì 6g, Huyền sâm 6g, Cam thảo 2g.

Chủ trị:

Chữa đẹn thuộc hư hỏa thượng phù. Xuất hiện lớp màng trắng trên lưỡi, chung quanh đỏ nhợt, tinh thần mệt mõi, người lừ đừ ăn uống kém, lòng bàn tay bàn chân nóng hoặc sốt nhẹ, mồ hôi trộm, lưỡi đỏ ít rêu.

Công hiệu:

Tư âm giáng hỏa.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia làm 2-3 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn thì thận trọng khi dùng bài này.

Lời bình:

Thận âm bất túc, hư hỏa thượng phù, lớp màng trắng tích trong xoang miệng gây ra đẹn. Chữa nên tư âm giáng hỏa. Trong bài Tri mẫu có tác dụng dưỡng âm thanh nhiệt tả hỏa; Mạch môn, Mẫu đơn bì tư âm giáng hỏa; Huyền sâm tư âm thanh nhiệt; Cam thảo điều hòa chư dược. Các vị cùng dùng có công dụng làm tăng âm dịch, phù hỏa hạ quy mà âm dương  điều hòa, bệnh có thể tự khỏi. Nếu thấy ngũ tâm phiền nhiệt thì thêm Bạch liễm 3g, Hồ hoàng liên 3g để thanh hư nhiệt, Giáng hư hỏa; Trong miệng hôi thì thêm Trúc nhự 3g, Bội lan 3g, để tả thấp trọc.

TIÊU CHẢY

Bài 1: Thanh thấp chỉ tả trà

Bài thuốc:

Cát căn 10g, Hỏa thán mẫu 10g, Ý dĩ nhân 10g, Kê đản hoa 6g, Cam thảo 3g.

Chủ trị:

Chữa trẻ tiêu chãy do thấp nhiệt.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2-3 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Tiêu chảy do tỳ hư thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Thấp nhiệt nội ngưng đọng ở bên trong, bức xuống dưới đại trường, cho nên gây ra tiêu chảy do thấp nhiệt. Chữa nên thanh nhiệt lợi thấp. Trong bài cát căn thanh nhiệt giải cơ, thăng dương chỉ tả; Ý dĩ nhân lợi thủy thấm thấp, sáp trường mà chỉ tả; Hỏa thán mẫu, Kê tán hoa thanh nhiệt lợi thấp, khử uế trọc ở đại trường. Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Các vị hợp dùng có công dụng khử được thấp nhiệt mà tiêu chảy tự cầm.

Bài 2: Thấp trệ trà

Bài thuốc:

Hỏa thán mẫu 10g, Sơn tra 6g, Mạch nha 15g, Bố tra diệp 6g, Cam thảo 3g.

Chủ trị:

Chữa trẻ bị tiêu chảy do thực tích đình trệ, các triệu chứng thấy đi cầu  phân lỏng nhảo, kèm thức ăn sống và sữa mùi hôi như mùi trứng thối, ợ hơi, lừ đừ, ruột sôi bụng đau, sau khi đi cầu thì cơn đau giảm, ngực bụng trướng đầy, trẻ hay kêu khóc hoặc trong giấc ngủ giật mình khóc thét, rêu lưỡi trắng nhớt hoặc bẩn nhớt, chỉ tay tím.

Công hiệu:

Tiêu thực đạo trệ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2-3 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Tiêu chãy do tỳ thận dương hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trẻ em đường ruột còn yếu, dễ bị tổn thương do ăn, bú. Thức ăn tích trong dạ dày nên bụng trướng đầy đau, sữa và thức ăn không tiêu trộn lẫn vào nhau thanh trọc không phân, được đưa xuống đại trường cho nên thấy đau bụng mắc đi cầu, đi ra phân sống lẫn sữa, chữa nên tiêu thực đạo trệ. Trong bài hỏa thán mẫu có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp chỉ tả; Sơn tra có tác dụng tiêu thực kiện vị, chủ yếu là tiêu hóa những thức ăn có nguồn gốc từ thịt bị tích trệ; Mạch nha có tác dụng tiêu hóa các thức ăn có nguồn gốc từ bột mì bị tích trệ; Bố tra diệp tiêu trệ khai vị; Cam thảo có tác dụng điều hòa chư dược. Các vị cùng dùng làm tiêu thực tích mà  cầm tiêu chãy. Nếu trẻ lừ đừ kèm thấy ngoại cảm gia Thần khúc 6g; kèm có nôn ói gia Tô diệp 5g, Hoắc hương 6g, để phương hương hóa trọc hòa vị chỉ ẩu.

ĐÁI DẦM

Bài 1: Đơn trạch chỉ di trà

Bài thuốc:

Mẫu đơn bì 10g, Trạch tả 6g, Nhân trần 10g, Kê nội kim 10g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa đái dầm thuộc thấp nhiệt, xuất hiện các triệu chứng đái trong lúc ngủ, nước tiểu hôi khai, nghiến răng về đêm, mặt môi đỏ, quấy khóc, chất lưỡi đỏ, rêu vàng dày, mạch huyền hoạt.

Công hiệu:

Thanh can lợi thấp.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2-3 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Đái dầm thuộc thể tỳ thận dương hư thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Thấp  nhiệt ở can kinh thấm xuống dưới, bàng quang bị nhiệt tà quấy rối, khí hóa thất thường mà phát sinh chứng đái dầm. Trong bài Mẫu đơn bì có tác dụng thanh can tả hỏa; Nhân trần, Trạch tả thanh tả lợi thấp dưa nhiệt theo đường tiểu mà ra ngoài; Kê nội kim hổ trợ cơ vòng bàng quang co bóp mà cầm đái dầm. Mật táo ngọt nhuận có tác dụng làm giảm vị đắng của thuốc. Các vị cùng dùng làm thanh thấp nhiệt, Bàng quang tự yên mà cầm đái dầm.

Bài 2: Dưỡng âm chỉ di trà

Bài thuốc:

Sơn thù nhục 10g, Sinh địa hoàng 10g, Mẫu đơn bì 6g, Trạch tả 6g, Phục linh 10g, Sơn dược 10g, Kê nội kim 10g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa đái dầm thuộc âm hư hỏa vượng. các triệu chứng thấy đái dầm trong lúc ngủ sốt về chiều mồ hôi trộm, ngũ tâm phiền nhiệt, hình thể gầy, lưỡi hồng không rêu. Mạch tế sác.

Công hiệu:

Tư âm tả hỏa, tư âm tả hỏa cố nhiếp cầm đái dầm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1chén chia 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Đái dầm thể tỳ thận dương hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài bài Lục vị địa hoàng hoàn có tác dụng tư âm bổ thận; Kê nội kim có tác dụng lên cơ vòng mà cầm đái dầm; Mật táo vị ngọt làm giảm vị đắng của thuốc. Các vị hợp dùng vừa có công dụng tư âm tả hỏa, lại cố nhiếp cầm đái dầm. để dưỡng thận âm, thanh hư hỏa mà đái dầm tự cầm.

Bài 3: Tuyên phế lợi thủy trà

Bài thuốc:

Bách hợp 12g, Kê nội kim 10g, ngọc mễ tu 10g, Hạnh nhân 6g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa đái dầm thuộc chứng phế có uất nhiệt. Các triệu chứng đái trong lúc ngủ, kèm có ho khạc đàm, lưỡi hồng mạch sác.

Công hiệu:

Tuyên phế lợi thủy.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm. cũng có thể hầm chung với thận heo(cật heo) lấy nước uống.

Cấm kỵ:

Đái dầm do thận khí hư không nên dùng bài này.

Lời bình:

Phế có uất nhiệt chức năng tuyên giáng không bình thường. Cho nên đái dầm. Tà nhiệt làm tổn thương phế cho nên sinh ra ho. Chữa nên tuyên phế lợi thủy. Trong bài Bách hợp, Hạnh nhân tuyên phế chỉ khái; Ngọc mễ tu lợi tiểu; Kê nội kim cầm đái dầm; Mật táo ngọt nhuận để làm giảm vị đắng của thuốc. Các vị cùng dùng có tác dụng làm cho phế khí thông sướng, thủy quan tự cố, giảm ho. Phế nhiệt thì gia Sa sâm 10g, Mạch môn 10g; Tiểu vàng thêm Xa tiền thảo 6g; Ho nhiều gia Tiền hồ 6g.

ẤU NHI CẤP CHẨN (sởi)

Bài 1: Sơ phong thấu chẩn trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 10g, Liên kiều 10g, Thuyền thoái 10g, Cát căn 10g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa ban trái thời kỳ đầu, thấy các triệu chứng như đột nhiên sốt cao, người bứt rứt, sau khi sốt hạ thì tinh thần vẩn bình thường, ăn ít, tiểu vàng, cầu bón, lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, chỉ tay tím nổi rỏ.

Công hiệu:

Sơ phong thanh nhiệt.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang,đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư nhược, cầu phân sệt thì không dùng bài này.

Lời bình:

Khi phong nhiệt tà phạm vào phế vị thì thấy sốt cao, người bứt rứt,ăn ít, tiểu vàng, cầu bón. Nếu chính khí thịnh mà tà khí lui thì tinh thần bình thường. Chữa nên sơ phong thanh nhiệt.Trong bài Kim ngân hoa, Liên kiều có tác dụng giải biểu; Thuyền thoái có tácdụng sơ phong tán kết thấu chẩn; Cát căn giải cơ thấu chẩn mà khu tà ra bên ngoài. Nếu họng đau gia Kiết cánh 6g, Lô căn 6g lợi yết chỉ thống; Tiểu vàng gia Đạm trúc diệp 5g, Ý dĩ nhân 10g, để lợi thủy thấm thấp.

Bài 2: Lương huyết tiêu chẩn trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 10g, Xích thược 6g, Bồ công anh 10g, Nhân trần 10g, Thổ phục linh 10g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa trẻ em nổi ban trái thấy các triệu chứng sau khi sốt hạ thì phát ban, ban mọc thưa màu đỏ sậm, không có cảm giác ngứa, 1-2 ngày sau thì ban lặn, không có mài vãy, không để lại dấu vết, chất lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn.

Công hiệu:

Bài này có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết tiêu chẩn.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống ấm.

Cấm kỵ:

Trẻ tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này do cảm phải phong nhiệt tà mà gây ra, khi tà khí xâm nhập vào cơ thể tà khí giao tranh cùng khí huyết, uất lại ở cơ nhục, phát ra ngoài da mà thành bệnh này. Chính khí chống lại tà khí ở bên ngoài, nhiệt lui thì thân nổi ban. Chữa nên dùng phép thanh nhiệt giải độc, lương huyết tiêu chẩn. Trong bài dùng Sinh địa hoàng, Xích thược để thanh nhiệt lương huyết; Bồ công anh có tác dụng thanh nhiệt giải độc; Nhân trần, Thổ phục linh có tác dụng lợi thấp thanh nhiệt giải độc mà tiêu chẩn; Mật táo ngọt nhuận. Các vị cùng dùng có công dụng giải nhiệt tà tiêu ban chẩn.

HỘI CHỨNG TRẺ EM HOẠT ĐỘNG QUÁ NHIỀU (NHI ĐỒNG ĐA ĐỘNG TỔNG HỢP CHỨNG)

Bài 1: Thanh tâm hoãn động trà

Bài thuốc:

Mạch môn 10g, Thạch xương bồ 6g,  Bạch thược 10g, Đăng tâm hoa 10 cọng, Đạm trúc diệp 6g, Chích cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa chứng đa động thuộc tâm can hỏa vượng thấy các chứng xuất hiện nhưphiền táo dễ nổi giận, tâm tình không an, mất tập trung, không chú ý, gây phiền phức cho người khác. Trẻ sợ nóng dễ đổ mồ hôi, hoặc chảy máu mũi, tối ngủ lăn lộn, nói mê, tiểu vàng cầu bón, lưỡi đỏ, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh tâm nhu can, ninh thần hoãn động.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Trẻ đa động chứng tuộc thể tỳ hưkhông nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Chứng đa động phần nhiều lấy các triệu chứng thần chí không yên làm chính. Thần chí là do tâm làm chủ, nuôi dưỡng huyết. “Tâm được huyết nuôi dưỡng thì thần có chổ dụng”. Nếu huyết không dưỡng tâm thì tâm hỏa bốc lên trên gây viêm, cùng với can hỏa bốc lên trên mà sinh ra phiền táo dễ nổi giận, tình chí không yên dễ nổi giận, quậy phá người khác. Mồ hôi là chất dịch của tâm, khi tâm hỏa vượng thịnh bức tân dịch tiết ra bên ngoài nên mồ hôi dễ đổ mà sợ nóng. Bức huyết vọng hành nên chảy máu cam; Tâm can hỏa vượng, nhiệt tà quấy nhiễu thần minh nên tối ngủ trẻ hay lăn lộn, nói mê, tiểu vàng cầu bón, lưỡi đỏ mạch huyền sác đều là hiện tượng chỉ tâm can hỏa vượng. Chữa nên thanh tâm nhu can, ninh thần định chí. Trong bài Thạch xương bồ mùi thơm mát có thể làm hưng phấn thanh dương, khai khiếu, hóa đàm trọc mà tỉnh mê. “Trùng khánh đường tùy bút” nói rằng: “Thạch xương bồ là vị thuốc thần diệu có tác dụng thưtâm khí, sướng tâm thần, di tâm tình, ích tâm chí. Trong thuốc thanh giải dùng Thạch xương bồ nhờ đó khử được đàm trọc ở dinh vệ; Trong thuốc tưdưỡng dùng vị thạch xương bồ là mượn ý tuyên tâm khai kết của thạch xương bồ để thông thần minh.” Thật và vị thuốc cần thiết để chữa chứng trẻ náo động. Mạch môn có tác dụng dưỡng âm thanh hỏa mà an thần ninh chí; Đăng tâm hoa, Đạm trúc diệp có tác dụng thanh giáng tâm hỏa; Bạch thược nhu can hoãn cấp; chích cam thảo có tác dụng hòa trung, ích dưỡng tâm tỳ. Các vị cùng dùng làm thanh tâm hỏa, hoãn can cấp thì tâm thần tự an. Dễ giận gia Uất kim 6g, Mẫu đơn bì 6g; Nói mớ nhiều gia Hài nhi thảo 10g.

Bài 2: Tả thấp hoãn động trà

Bài thuốc:

Nhân trần 12g, Thổ phục linh 12g, Thạch xương bồ 6g, Đăng tâm hoa 10 cọng, Hoạt thạch 10g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa trẻ náo động thuộc thể nhiệt uất bên trong. Thấy các triệu chứng tức ngực người lừ đừ hôi miệng  tiểu vàng đỏ, người bực bội hay nổi giận, nói nhiều bất kể thân sơ. Trẻ náo động khó khống chế, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Thanh tả thấp nhiệt, thông khiếu định chí.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước, sắc còn 1 chén chia ra uống chiều tối.

Cấm kỵ:

Trẻ náo động không có thấp nhiệt, tỳ vị hưhàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Thấp nhiệt tà uất kết ở bên trong, lưu trệ ở vị quản thì người lừ đừ không muốn ăn, miệng hôi; Thấp nhiệt tà giáng xuống bàng quang thì tiểu tiện đỏ; Thấp nhiệt tà quấy nhiễu tâm thần thì nói nhiều, náo động, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch hoạt sác là hiện tượng thấp nhiệt tà hãm vào bên trong. Chữa nên thanh nhiệt lợi thấp, tả trọc thông khiếu. Trong bài Thạch xương bồ có tác dụng thanh tâm tả hỏa, lợi thấp thông khiếu; Hoạt thạch, Nhân trần có tác dụng thanh lợi thấp nhiệt; Thổ phục linh lợi thấp khu đàm trọc; Đăng tâm hoa thanh giáng tâm hỏa; Mật táo ngọt nhuận để làm giảm vị đắng của thuốc. Các vị cùng dùng có công dụng thanh thấp nhiệt, tả trọc thông khiếu mà tinh thần được an việc náo động của trẻ cũng giảm bớt.

Bài 3: Tư âm ninh tỉnh trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 10g, Mạch môn 10g, Mẫu đơn bì 6g, Bạch thược 10g, Phục thần 10g, Đăng tâm hoa 10 cọng, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa trẻ náo động thuộc âm thể âm hư hỏa vượng xuất hiện các triệu chứng, cơ thể gầy ốm, mặt má đỏ, tinh thần không tập trung, phìền táo dễ nổi giận, nói nhiều hoạt động nhiều, ngũ tâm phiền nhiệt, đêm ngủ lăn lộn, nói mê, lưỡi đỏ mạch tế sác.

Công hiệu:

Tư âm tiềm dương, ninh thần ích trí.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén chia ra uống sáng, chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dương hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Âm dịch không đủ thì cơ thể gầy, tinh thần khó tập trung. Âm hư hỏa nhiệt gây viêm bên trên, nên thấy mặt má đỏ, người bứt rứt dễ nổi giận, nói nhiều, hoạt động nhiều, ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi hồng mà khô, mạch tế sác đều là dấu hiệu của hư hỏa bốc. Chữa nên tư âm giáng hỏa. Trogn bài Thái tử sâm, Mạch môn ích khí sinh tân; Mẫu đơn bì, Bạch thược tả hư hỏa ở can thận; Phục thần an thần ích trí; Đăng tâm hoa tả tâm hỏa mà an thần định chí; Mật táo có vị ngọt nhuận làm giảm bớt vị đắng của các thuốc. Các vị cùng dùng có công dụng dưỡng âm mà hư hỏa tự hạ; thần chí được yên thì lời nói ít và hành động quậy náo sẽ bình. Đêm ngủ mồ hôi nhiều gia phù tiểu mạch 15g, để liễm hãn. Tâm phiền gia Đạm trúcdiệp 6g, Thạch xương bồ 6g để thanh tâm an thần.

PHỤ KHOA

HỘI CHỨNG CĂNG THẲNG TRƯỚC KỲ KINH

Bài 1: Thanh can khai uất trà

Bài thuốc:

Bạch thược 20g, Mẫu đơn bì 10g, Phật thủ 10g, Tố hinh hoa 10g, Ích mẫu thảo 20g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa hội chứng căng thẳng trước khi hành kinh  thuộc thể can có uất nhiệt, xuất hiện các triệu chứng trước khi hành kinh bầu vú tức trướng, người nóng nảy bứt rức dễ nổi giận, tình cảm dễ bị xúc động, mất ngủ, miệng đắng, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh can nhiệt, giải can uất.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén, uống ấm.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dương hư không nên chọn bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa chứng can có uất nhiệt mà gây ra. Can khí uất kết, làm mất chức năng sơ tiết, làm cho nhũ lạc không thông, cho nên bầu vú tức trướng và hông sườn đầy đau; Can uất hóa hỏa, thì nóng nảy bức rức dễ nổi giận, tính tình dễ bị kích động; Hỏa quấy nhiễu thanh khiếu mà sinh ra mất ngủ, miệng khát, mạch huyền sác, đây là những biểu hiện nhiệt tà ở can kinh. Chữa nên sơ can giải uất, thanh nhiệt giáng hỏa. Trong bài Bạch thược, Phật thủ có tác dụng hành khí chỉ thống, sơ can giải uất; Ích mẫu thảo hành trệ điều kinh; Cam thảo điều hòa chư dược. Các vị hợp dùng làm thanh can nhiệt, giải uất kết mà các chứng xuất hiện trước khi hành kinh sẽ khỏi. Nếu bầu vú đau tức nhiều gia Thanh bì 10g, Chỉ xác 10g; Vùng bụng dưới trằn kinh đến không thông gia Trạch lan 10g; Uất nhiệt nhiều gia Chi tử 10g, Xuyên luyện tử 10g; Cầu bón gia Đông qua nhân 30g.

Bài 2: Đơn mạch trà

Bài thuốc:

Mẫu đơn bì 10g, Mạch môn 15g, Tri mẫu 10g, Ích mẫu thảo 20g, Ngưu tất 10g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa hội chứng căng thẳng trước khi hành kinh thuộc can thận âm hư hỏa vượng xuất hiện các chứng trước khi hành kinh đau đầu, phát sốt, ngũ tâm phiền nhiệt, 2 bầu vú căng, lưng gối mềm yếu, kinh ra lượng ít, hoặc miệng họng khô ráo, miệng lưỡi lở, tiểu ngắn vàng, lưỡi hồng ít rêu, mạch tế sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt dưỡng âm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén uống ấm.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dương hư thì không dùng bài này.

Lời bình:

Âm huyết bất túc, âm hư thì sinh nội nhiệt, cho nên thấy trước khi hành kinh phát sốt; Can huyết khuy hư, nhũ lạc không được nuôi dưỡng, cho nên kinh hành vú trướng đau;  Hư hỏa quấy nhiễu phần thanh dương bên trên cho nên đau đầu; Thận âm bất túc, lưng gối không dược nuôi dưỡng, cho nên lưng gối mềm yếu; Sốt lâu làm tổn thương âm dịch nên thấy miệng họng khô ráo; Hư hỏa bốc lên trên miệng lưỡi nên thấy miệng lưỡi lở loét; Lưỡi đỏ,ít rêu, mạch tế sác đều là những biểu hiện của can thận âm hư. Chữa nên thanh nhiệt dưỡng âm điều can kinh. Trong bài Mẫu đơn bì, Mạch môn, Tri mẫu có tác dụng thanh nhiệt dưỡng âm, tư can thận; Ích mẫu thảo hành trệ điều kinh; Ngưu tất dẫn hỏa hạ hành; Cam thảo điều hòa chư dược. Các vị cùng dùng có tác dụng để nuôi can thận, thanh hư hỏa, giảm các chứng trước khi hành kinh. Phiền nhiệt nhiều hoặc thấy mồ hôi trộm, sốt cơn thì gia Địa cốt bì 10g, để tư âm thoái hư nhiệt; mất ngủ hay chiêm bao mộng mị gia Thiên môn 12g, Dạ giao đằng 20g để dưỡng âm an thần; Kinh không thông gia Trạch lan 10g, Đơn sâm 20g, để hành ứ thông lạc.

Bài 3: Kinh hành đầu thống trà

Bài thuốc:

Sài hồ 6g, Cát căn 20g, Đơn sâm 12g, Xích thược 10g, Tam thất 10g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa hội chứng căng thẳng trước kỳ kinh thuộc thể ứ trở thanh khiếu. Thấy xuất hiện các chứng đau đầu khi hành kinh hoặc trước khi hành kinh thấy đầu đau như dùi đâm, hoặc đau như vỡ, đôi khi thấy váng đầu, kinh ra không hết, sắc tím bầm có hòn cục, bụng dưới đau ấm vào đau, bầu vú trướng đau, lưỡi xạm hoặc có đốm ứ huyết, mạch huyền sáp hoặc tế sáp.

Công hiệu:

Hóa ứ thông lạc, hoạt huyết hành trệ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén uống ấm.

Cấm kỵ:

Khí hư không có ứ trệ thì không dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa chứng do ứ huyết uất ở bên trong, gây bế tắt thanh khiếu, mạch lạc không thông mà gây ra. Chữa nên hoạt huyết hóa ứ thông lạc. Trong bài Sài hồ có tác dụng sơ can lý khí; Cát căn hoạt huyết thông ứ, thăng thanh dương mà chữa đau đầu. Đơn sâm, Xích thược, Tam thất hoạt huyết hóa ứ, thông lạc chỉ thống; Cam thảo điều hòa chư dược. Các vị cùng dùng có công dụng hoạt huyết khử ứ thông kinh, càng thích hợp với chứngđau đầu trước kỳ kinh thuộc thể ứ trệ.

KINH ĐI TRƯỚC KỲ

Bài 1: Lưỡng địa điều kinh trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Địa cốt bì 10g, Ích mẫu thảo 15g, Mạch môn 15g, A giao 15g,

Chủ trị:

Chữa kinh trước kỳ lượng ít, kèm thấy người bứt rứt, đêm ngủ hay mơ mộng, miệng khô, lưỡi đỏ, mạch tế sác.

Công hiệu:

Bài này có tác dụng dưỡng âm thanh nhiệt điều kinh.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 4 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần.

Cấm kỵ:

Kinh ra trước kỳ do khí hư bất cố không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Phụ khoa danh gia Phó Sơn cho rằng: “kinh đi trước kỳ, là do hỏa khí xông lên trên; lượng kinh nhiều hay ít, cần phải xem xét về thủy khí (huyết dịch). Kinh ra trước kỳ mà lượng nhiều, do Hỏa nhiều mà thủy (huyết dịch) cũng nhiều; kinh ra trước kỳ mà lượng ít, do hỏa nhiều mà thủy(huyết dịch) không đủ” bài này dùng chữa kinh ra trước kỳ do âm hư thủy thiếu, hư hỏa quấy nhiễu ở bào cung bức huyết vọng hành mà gây ra bệnh. Cho nên chữa phải tư âm thanh nhiệt. Trong bài Sinh địa hoàng, Mạch môn, A giao là các vị thuốc có tác dụng lương huyết chỉ huyết tư âm dịch, âm dịch được bổ thì thủy thịnh mà hỏa tự yên. Tức là có ý “Tráng thủy chi chủ dĩ chế dương quan”; Địa cốt bì có tác dụng thanh hư hỏa để trị tiêu (chữa triệu chứng); Ích mẫu thảo có tác dụng điều kinh. Các vị hợp dùng có công dụng dưỡng âm thanh nhiệt. đối với chứng kinh ra trước kỳ do âm hư nội nhiệt lại thấy lượng kinh ra ít mà dây dưa không dứt thì khi dùng bài này sẽ thấy hiệu quả trước mắt.

Bài 2: Thanh kinh trà

Bài thuốc:

Mẫu đơn bì 10g, Địa cốt bì 10g, Bạch thược 20g, Thanh hao 10g, Ích mẫu thảo 20g.

Chủ trị:

Chữa kinh trước kỳ thuộc huyết nhiệt. Các triệu chứng xuất hiện như kinh tới sớm, lượng nhiều, sắc đỏ sậm hoặc tím, chất đặc mà dính, kèm theo tâm phiền, miệng khát, cầu bón, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác.

Công hiệu:

Bài này có tác dụng thanh nhiệt lương huyết dưỡng âm điều kinh.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén uống ấm.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn khôn nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Phục nhiệt hay bức huyết vọng hành, cho nên kinh đến sớm mà lượng nhiều; hỏa hun đốt nên kinh có màu đỏ sậm, chất đặc mà dính; tâm phiền miệng khô, cầu bón tiểu vàng, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch sác đều là hiện tượng của hỏa nhiệt. Chữa nên thanh nhiệt tả hỏa, lương huyết chỉ huyết. Trong bài Mẫu đơn bì có tác dụng thanh nhiệt lương huyết, trừ phục hỏa trong huyết phận, Địa cốt bì có tác dụng dưỡng âm thanh nhiệt, lương huyết chỉ huyết; Thanh hao có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa, cũng hổ trợ Mẫu đơn bì, Địa cốt bì để giáng hư hỏa; Bạch thược có tác dụng liễm âm hòa doanh, nhu can dưỡng huyết. Các vị cùng dùng có công dụng dưỡng âm thoái nhiệt, làm khử nhiệt mà âm không bị tổn thương, huyết được nuôi dưỡng mà kinh tự điều.

Bài 3: Thanh can đạt uất trà

Bài thuốc:

Xuyên luyện tử 10g, Sài hồ 10g, Bạch thược 15g, Mẫu đơn bì 12g, Cúc hoa 12g.

Chủ trị:

Chữa kinh đi trước kỳ thuộc chứng can uất có nhiệt. các triệu chứng thấy kinh đi sớm, sắc đỏ đặc, hông sườn đau bụng trướng, tính tình dễ nổi giận hoặc nóng nảy, miệng đắng họng khô, hoặc có nóng lạnh, trong tim bứt rứt, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Bài này có tác dụng sơ can giải uất, thanh nhiệt tả hỏa.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén uống ấm.

Cấm kỵ:

Người khí hư vị hàn thì không dùng bài này.

Lời bình:

Can khí uất kết, lâu ngày hóa hỏa quấy nhiễu trong bào cung, bức huyết ra sớm, cho nên phát ra bệnh này. Chữa nên sơ can giải uất, thanh tiết uất hỏa; Trong bài Xuyên luyện tử có tác dụng sơ can giải uất, hành khí lý khí; Mẫu đơn bì thanh can tiết nhiệt, lương huyết tả hỏa; Sài hồ, Bạch thược sơ can giải uất, lý khí chỉ thống; Cúc hoa thanh tiết can nhiệt, trợ mẫu đơn bì khử phục hỏa uất bên trong. Các vị cùng dùng vừa sơ can tiết nhiệt để điều kinh lại lý khí hành trệ để chỉ thống. có công dụng sơ can giải uất, thanh nhiệt tả hỏa. Bài này cũng có thể chữa hành kinh kèm có cảm phong nhiệt. Nếu hành kinh có khối ứ gia Đơn sâm 15g, Ích mẫu thảo 20g để hoạt huyết hóa ứ; Đau hông sườn nhiều gia Huyền hồ sách 10g, để sơ tiết can khí chỉ thống; Đau đầu do can hỏa bốc lên trên gia Hạ khô thảo 15g, Hoàng cầm 12g, để thanh tả can hỏa.

Bài 4: Mẫu tử trà

Bài thuốc:

Ích mẫu thảo 20g, Sung úy tử 10g, Sinh địa hoàng 30g, Địa du 20g, Mẫu đơn bì 15g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa kinh ra trước kỳ thuộc huyết nhiệt, xuất hiện chứng kinh ra trước kỳ lượng nhiều, màu kinh đỏ sậm hoặc tím đen, chất dính đặc, hoặc có mùi hôi, lưỡi đỏ, mạch sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lương huyết điều kinh.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 4 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn, thận hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Ích mẫu thảo có tác dụng họat huyết điều kinh, là vị thuốc quan trọng để điều kinh. Sung úy tử là hạt của cây Ích mẫu thảo, dùng để điều chỉnh kinh ra trước kỳ rất tốt. Mẫu tử cùng dùng công hiệu càng cao; Sinh địa hoàng có tác dụng lương huyết mà tư âm thanh nhiệt; Địa du lương huyết chỉ huyết; Mẫu đơn bì thanh can tiết nhiệt, lương huyết tả hỏa; Cam thảo điều hòa chư dược. Các vị cùng dùng vừa tư âm thanh nhiệt lại lương huyết chỉ huyết, đối với kinh ra trước kỳ thuộc thể huyết nhiệt vọng hành thì càng thích hợp. Nhiệt nhiều người bứt rứt gia sơn chi tử 10g để thanh nhiệt tả hỏa; Kinh ra không hết gia Trạch lan 15g, Ngưu tất 15g, để hành ứ thông kinh.

KINH QUÁ NHIỀU

Kinh ra quá nhiều là chỉ khi hành kinh lượng kinh ra quá nhiều, hoặc khi hành kinh thời gian kéo dài vượt quá 7 ngày trở lên.

Phương hướng chọn dùng lương trà

Kinh ra quá nhiều kèm thấy màu kinh có đỏ sậm, hôi, bụng dưới cứng đau ấn vào đau thì chọn dùng bài nhị địa trà. Nếu kinh ra quá nhiều hoặc kinh kéo dài không sạch thấy trong người bứt rứt dể nổi giận, đêm ngủ không yên, hay mơ mộng, ngũ tâm phiền nhiệt, thì chọn dùng bài Địa tiên trà.

Bài 1: Nhị địa trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 20g, Địa du 20g, Đơn sâm 15g, Liên kiều 12g, Ích mẫu thảo 20g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa kinh ra quá nhiều sắc kinh sậm mùi hôi hoặc kèm thấy phát sốt sợ lạnh, bụng dưới cứng đau ấn vào đau, lưỡi đỏ, mạch sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc hóa ứ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 4 chén, sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Nhiệt độc tích ở huyết phận, quấy nhiễu 2 mạch Xung Nhâm, huyết hải không yên, huyết nhiệt vọng hành cho nên lượng kinh tăng nhiều. Chữa nên thanh nhiệt giải độc hóa ứ. Trong bài Liên kiều thanh nhiệt giải độc; Ích mẫu thảo hành huyết, khử đàm sinh tân, điều kinh giải độc; Địa du khổ hàn hạ giáng, tả hỏa giải độc, vào huyết phận mà lương huyết chỉ huyết. Nghiên cứu của dược lý hiện đại đã nêu rõ Địa du có tác dụng gây co thắt huyết quản, rút ngắn thời gian đông máu; Sinh địa hoàng lương huyết chỉ huyết; Đơn sâm hoạt huyết hòa huyết, dưỡng huyết điều kinh; Cam thảo điều hòa chư dược. Các vị cùng dùng thì giải được nhiệt tà, hóa được huyết ứ, lượng kinh trở về bình thường. Kèm có ngoại cảm gia Sài hồ 10g để giải biểu; Nhiệt nhiều gia sơn chi tử 10g, Hoàng bá 10g để tiết nhiệt.

Bài 2: Địa tiên trà

Bài thuốc:

Địa du 20g, Tiên hạc thảo 15g, Tang thầm 15g, A giao 30g, Tri mẫu 10g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa kinh quá nhiều hoặc kinh kéo dài ngày không sạch thấy phiền táo, dễ nổi giận, đêm ngủ không yên nhiều mộng, ngủ tâm phiền nhiệt, chất lưỡi đỏ, rêu ít, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Tư thận ích âm, chỉ huyết điều kinh.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần.

Cấm kỵ:

Kinh ra nhiều do khí hư bất cố hoặc tỳ vị hư hàn thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Địa du, Tiên hạc thảo lương huyết chỉ huyết. Nghiên cứu của dược lý hiện đại nêu rõ: Địa du, Tiên hạc thảo đều có tác dụng thúc đẩy sự hình thành của tế bào tiểu cầu, rút ngắn thời gian ngưng huyết, là vị thuốc hay để lương huyết chỉ huyết; Tang thầm có tác dụng tư âm ích âm lương huyết, sách “Bản thảo kinh sơ” nói: “Tang thầm vị ngọt tính hàn có tác dụng ích huyết mà trừ nhiệt, là loại thuốc lương huyết bổ huyết ích âm”; Tri mẫu có tác dụng tư âm thanh nhiệt; A giao có thể bổ huyết chỉ huyết và nhuận táo. Sách “Bản thảo cầu chân” nói: “A giao khí vị đều thuộc âm, đã vào can kinh để dưỡng huyết lại vào thận kinh để tư thủy, ….là loại thuốc dưỡng huyết nhuận táo, dưỡng phế trừ nhiệt ở huyết phận”. Cam thảo điều hòa chư dược. Các vị cùng dùng có công dụng dưỡng can thận âm mà khôi phục phần âm, lương huyết để huyết vọng hành tự quy kinh. A giao cho vào lúc sắc thuốc hoặc chưng riêng bên ngoài uống, cũng có thể lấy nước thuốc vừa sắc cho a giao vào nồi, vặn lửa nhỏ cho sôi, khuấy liên tục cho đến khi a giao tan ra hoàn toàn.

ĐAU BỤNG KINH

Bài 1: Thông kinh chỉ thống trà

Bài thuốc:

Bồ hoàng 10g, Đơn sâm 20g, Trạch lan 10g, Xích thược 12g, Xuyên ngưu tất 10g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Có kinh đau bụng, đau dữ dội từng cơn, lượng kinh nhiều, kèm có hòn cục, sau khi kinh ra được thì cơn đau giảm, tay chân lạnh, lợm giọng nôn khan, lưỡi sạm tối, mạch huyền sác.

Công dụng:

Hành khí tán ứ, chỉ thống thông kinh.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén uống ấm sau khi ăn. Mỗi tháng uống trước kỳ hành kinh từ 3-5 ngày

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn huyết hư không có ứ trệ thì không dùng bài này

Lời bình:

“Ứ trở do khí trệ, không thông thì gây đau” là có liên quan tới bệnh này. Chữa nên hoạt huyết hóa mạc, tán ứ chỉ thống. Trong bài Bồ hoàng có tác dụng hoạt huyết tán ứ chỉ thống; Trạch lan sơ can phá khí, tiêu trưng hà(hòn cục), tán kết hóa tích chỉ thống; Xuyên ngưu tất dẫn chư dược hạ hành, làm cho kinh được thuận hành; Cam thảo điều hòa các vị thuốc. các vị cùng dùng có công dụng hành trệ khí, tán ứ kết, mà chỉ thống tiêu mạc.

Bài 2: Sơ can thông kinh trà

Bài thuốc:

Sài hồ 10g, Xích thược 12g, Bạch thược 15g, Xuyên luyện tử 10g, Bại tương thảo 20g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa đau bụng kinh do can có uất nhiệt xuất hiện các chứng có kinh đau bụng, kèm có hòn cục, đau tức hông sườn, bầu vú căng đau, người bực bội dễ nổi giận miệng khô đắng, chất lưỡi đỏ, rêu vàng mạch huyền sác.

Công hiệu:

Sơ can thanh nhiệt, thông kinh chỉ thống

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén, uống ấm sau bữa ăn. Mỗi tháng uống trước kỳ kinh 3 ngày, uống đến khi hành kinh thì ngưng.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư hàn huyết hư không có ứ trệ thì không dùng.

Lời bình:

Can chủ sơ tiết mà điều sướng khí cơ, giận hờn làm tổn thương can, khí cơ ngưng trệ, uất lâu hóa nhiệt, uất nhiệt ứ nghẽn ở bào cung, cho nên kinh hành đau bụng; kèm có ứ nhiệt nên thấy có huyết khối; Kinh can chạy dọc theo hông sườn qua bầu vú, can uất khí không thông nên thấy đau tức hông sườn, bầu vú căng đau, người bực bội dễ nổi giận, miệng khô đắng, chất lưỡi đỏ rêu vàng, mạhc huyền sác đều là hiện tượng nhiệt uất ở can. Chữa nên sơ can thanh nhiệt, điều kinh chỉ thống. Trong bài Sài hồ, Xuyên luyện tử sơ can lý khí thanh nhiệt; Bại tương thảo tán ứ thông kinh; Xích thược, Bạch thược cùng dùng vừa có thể lương huyết tán ứ lại nhu can chỉ thống; Cam thảo điều hòa chư dược. Các vị cùng dùng làm thanh can nhiệt mà thông kinh, hành ứ trệ mà chỉ thống. Hờn giận nhiều gia Sơn chi tử 10g; đau nhiều gia Huyền hồ sách 10g; Kinh hành không khoan khoái gia Tam thất 10g, Xuyên ngưu tất 15g.

BẾ KINH

Bài 1: Đào hồng tuyên bế trà

Bài thuốc:

Đào nhân 12g, Hồng hoa 10g, Xuyên ngưu tất 10g, Nga truật 10g, Tam lăng 10g, Ích mẫu thảo 20g.

Chủ trị:

Chữa bế kinh do khí trệ huyết ứ xuất hiện chứng kinh nguyệt vài tháng không thấy có kinh ngực sườn đầy tức, người bực bội dễ cáu gắt, bụng dưới trướng đau hoặc ấn vào thấy đau, chất lưỡi tím bầm hoặc có điểm ứ huyết, mạch trầm huyền hoặc huyền sáp.

Công hiệu:

Hành khí hoạt huyết tán ứ thông kinh.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 4 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần.

Cấm kỵ:

Bế kinh do hư hàn với tỳ vị hư hàn thì không dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa chứng bế kinh do khí trệ huyết ứ. Chữa nên hành khí tán ứ, hoạt huyết thông kinh. Trong bài Đào nhân, Hồng hoa chuyên chạy vào huyết phận, có thể tán ứ huyết, khử tử huyết, thông kinh mạch, phá trưng kết. Là vị thuốc quan trọng để hành huyết phá ứ; Ích mẫu thảo chuyên hành ứ huyết ở tâm can, sơ uất khí ở can, có đặc điểm là hóa ứ sinh tân, hành ứ mà không làm tổn thương khí, bổ dưỡng tân huyết mà không lưu trệ là vị thuốc không thể thiếu của phụ khoa. Tam lăng, Nga truật phá khí kết trong huyết, trục ứ trệ trong huyết; Xuyên ngưu tất dẫn các vị thuốc đi xuống dưới làm mạnh công hiệu tuyên bế. Các vị cùng dùng có công dụng hành trệ khí, thông ứ trệ thì kinh thủy tự ra.

Bài 2: Thanh lương tuyên bế trà

Bài thuốc:

Thạch hộc 12g, Mạch môn 10g,Tri mẫu 10g, Đơn sâm 20g, Ích mẫu thảo 20g, Xuyên ngưu tất 10g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa chứng bê kinh kế phát thuộc âm hư vị nhiệt. Chứng thấy kinh không đều, kèm có lợm giọng, mau đói, đau họng, miệng khô khát, mọc mụn trong miệng, lưỡi đỏ, mạch  huyền sác hoặc họat sác.

Công hiệu:

Dưỡng âm nhuận táo, khoan hung hòa vị, hoạt huyết thông kinh.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 4 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Bế kinh do hư hàn hoặc do tỳ vị hư hàn thì không dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa bế kinh, do âm hư vị nhiệt mà gây nên. Chữa nên tư âm hòa vị, hoạt huyết thông kinh. Trong bài Thạch hộc vị ngọt hơi nhạt tính hàn có tác dụng ích vị sinh tân; Mạch môn, Tri mẫu dưỡng âm nhuận táo; Ích mẫu thảo hoạt huyết khử ứ; Đơn sâm hoạt huyết hòa huyết thông kinh; Xuyên ngưu tất thanh nhiệt thông kinh, dẫn huyết hạ hành. Các vị cùng dùng có công dụng thanh hư nhiệt, bổ âm huyết, khi mạch xung, nhâm thông điều thì kinh tự có.

Bài 3: Tư âm tuyên bế trà

Bài thuốc:

Sơn thù nhục 12g, Mẫu đơn bì 10g, Tang thầm 15g, Hạn liên thảo 10g, Tri mẫu 10g, Xuyên ngưu tất 10g.

Chủ trị:

Chữa bế kinh do âm hư hỏa vượng chứng thấy đến kỳ kinh không có, hư phiền mất ngủ, nhiều mộng mị, miệng khô, ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch huyền tế sáp.

Công hiệu:

Tư âm tăng dịch giáng hỏa thông kinh.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 4 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần.

Cấm kỵ:

Bế kinh do hư hàn, tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Can thận âm hư tân khô huyết thiểu sinh ra bế kinh. Chữa nên tăng tân dịch dưỡng can thận, giáng hư hỏa, thông kinh mạch. Trong bài Sơn thù nhục, Mẫu đơn bì  có tác dụng tư dưỡng can thận, tư âm tăng dịch; Tri mẫu tư âm sinh tân, giáng hư hỏa; Tang thầm, Hạn liên thảo có tác dụng ích âm huyết trong can thận; Xuyên ngưu tất có tác dụng thanh nhiệt thông kinh, dẫn huyết hạ hành. Các vị cùng dùng có công dụng tăng tân dịch, dưỡng âm huyết, huyết hải sung túc mà thì kinh nguyệt đến ngày thì có.

BĂNG LẬU

Bài 1: Dưỡng âm bổ lậu trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 20g, Thục địa hoàng 15g, Sơn thù nhục 10g, Hạn liên thảo 12g, Mẫu đơn bì 10g, Bạch thược 20g.

Chủ trị:

Chữa tử cung xuất huyết (băng lậu thể can thận âm hư). Kinh không đều, sắc đỏ, lượng nhiều hoặc rỉ rả không dứt, chất đặc dính, kèm có mõi lưng, chóng mặt, tâm phiền, lưỡi đỏ, mạch tế sác.

Công hiệu:

Dưỡng âm thanh nhiệt, tư bổ can thận.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 4 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần.

Cấm kỵ:

Băng lậu thể khí hư bất cố không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Con gái khi bắt đầu có kinh, do thận khí không cố, thận tinh không đủ, can không được nuôi dưỡng, can thận âm hư mà sinh nội nhiệt, nhiệt quấy nhiễu bào cung, bứt huyết vọng hành mà thấy âm đạo xuất huyết. phụ nữ xuất huyết thuộc âm hư sinh nội nhiệt; nên dựa theo phép dưỡng âm thanh nhiệt bổ can thận. Trong bài Sinh địa hoàng, Thục địa hoàng, Sơn thù nhục, Hạn liên thảo cùng có tác dụng tư bổ can thận; Mẫu đơn bì, Bạch thược giáng hỏa thanh nhiệt ở huyết hải, làm bổ âm mà không sợ huyết bị động, Huyết được cầm mà không lo nạn nê trệ (do hàn lương). Các vị cùng dùng vừa bổ can thận lại tư âm thanh nhiệt. Làm cho hư hỏa giáng từ từ, âm dương cân bằng, huyết theo kinh mạch, Kinh cứ đúng kỳ mà ra. Xuất huyết lượng nhiều gia Địa du 15g, Tiên hạc thảo 15g, để lương huyết chỉ huyết; Chóng mặt tim hồi hộp gia A giao 15g, Long cốt 20g, Mẫu lệ 20g để ích âm huyết, an tâm thần.

Bài 2: Tam địa trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Địa du 20g, Địa cốt bì 10g, Mạch nha 10g,

Chủ trị:

Chữa băng lậu do âm hư nội nhiệt hoặc kinh không đều. Chứng thấy kinh ra rỉ rả không dứt, sắc đỏ lượng ít, chất đặc, kèm có gò má đỏ, sốt cơn, lòng bàn tay chân nóng, đêm ngủ bứt rứt hay mộng mị, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.

Công hiệu:

Tư âm thanh nhiệt điều kinh chỉ huyết.

Cách dùng:

Mỗi  ngày 1 thang, nước đầu đổ 4 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén hòa chung chia ra uống 2 lần.

Cấm kỵ:

Băng lậu thể khí hư bất cố không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Sinh địa hoàng có tác dụng lương huyết tư âm thanh nhiệt; Địa du có tác dụng thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết; Địa cốt bì dưỡng âm thoái hư nhiệt; Tam địa cùng dùng vừa có thể tư thận thủy, lương huyết chỉ huyết, lại có thể giáng hư hỏa; Mạch môn dưỡng âm thanh nhiệt, tư thủy chế hỏa. Các vị cùng dùng có ý tư âm và thanh nhiệt cùng hành, lương huyết và chỉ huyết cùng thực hiện để có công dụng “tráng thủy chế hỏa”

ĐỚI HẠ

Bài 1: Thanh nhiệt chỉ đới trà

Bài thuốc:

Nhân trần 20g, Thổ phục linh 30g, Xa tiền thảo 15g, Bạch hoa xà thiệt thảo 20g. Thương truật 12g, Ý dĩ nhân 20g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa đới hạ do thấp nhiệt với các triệu chứng như đới hạ lượng nhiều, màu vàng hôi dính, tức ngực miệng đắng, bụng dưới đau, trướng người lừ đừ, tiểu vàng ngắn, lưỡi đỏ rêu vàng nhớt, mạch nhu sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp chỉ đới.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 4 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén hòa chung chia ra uống trong ngày.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dương hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa đới hạ. Nguyên nhân là do thấp nhiệt tích bên dưới, gây  tổn thương 2 mạch Nhâm Đới mà phát sinh bệnh. Chữa lấy thanh nhiệt lợi thấp chỉ đới làm chủ. Trong bài Nhân trần, Xa tiền thảo có tác dụng thanh lợi thấp nhiệt làm cho thấp nhiệt tà theo nước tiểu ra ngoài; Thổ phục linh có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trừ thấp chỉ đới; Bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng thanh nhiệt giải độc; Thương truật, Ý dĩ nhân táo thấp thanh lợi hạ tiêu thấp nhiệt mà chỉ đới; Cam thảo điều hòa chư dược. Các vị cùng dùng có công dụng lợi thủy, táo thấp, thanh nhiệt theo 1 hướng làm cho thấp nhiệt được thanh mà đới hạ tự cầm.

Bài 2: Giải độc chỉ đới trà

Bài thuốc:

Bồ công anh 30g, Hoàng bá 12g, Đơn sâm 15g, Mẫu đơn bì 15g, Khổ sâm 15g, Xuyên luyện tử 10g.

Chủ trị:

Chữa đới hạ do nhiệt độc thịnh ở bên trong. Xuất hiện chứng đới hạ tăng nhiều, sắc vàng chất đặc mà tanh hôi, bụng dưới có cảm giác nóng đau, ấn vào đau, người phát sốt, sợ lạnh, miệng đắng, khát nước, tiểu vàng đỏ, gắt đau, cầu bón, lưỡi hồng rêu vàng nhớt, mạch huyền hoạt hoặc hoạt sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc hành khí hóa ứ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 4 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén hòa chung chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ hư thấp thịnh, tỳ dương hư thì không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa đới hạ thuộc thể nhiệt độc tích mà sinh ra. Cho nên chữa phải thanh nhiệt giải độc, hành khí hóa ứ làm chính. Trong bài Bồ công anh, Hoàng bá có tác dụng thanh nhiệt giải độc, khử thấp chỉ đới; Khổ sâm có tác dụng thanh nhiệt giải độc, thu sáp chỉ đới; Mẫu đơn bì, Đơn sâm hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt lương huyết; Xuyên luyện tử sơ can lý khí. Các vị cùng dùng vừa có thể thanh giải hạ tiêu  nhiệt độc vừa hành khí hóa ứ chỉ thống. có công dụng thanh thấp nhiệt, hành ứ trệ mà đới hạ cầm, phúc thống trừ.

Bài 3: Thanh tâm chỉ đới trà

Bài thuốc:

Mạch môn 20g, Sơn chi tử 10g, Sinh địa hoàng 20g, Xa tiền thảo 10g, Đạm trúc diệp 10g.

Chủ trị:

Đới hạ thuộc thể tâm hỏa thịnh. Xuất hiện đới hạ sắc đỏ, phiền khát, ít ngủ, người ốm, Mặt đỏ, miệng đắng họng khô, miệng lưỡi mọc mụn, tiểu tiện đỏ gắt.

Công hiệu:

Thanh tâm tả hỏa.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén hòa chung chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dưong hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa xích đới là do tâm hỏa thịnh mà gây ra. Sách “Chư bệnh nguyên hầu luận” nói rằng: “tâm có màu đỏ, đới hạ màu đỏ là do tâm tạng bị hư tổn cho nên đới hạ có sắc đỏ.” Chữa nên thanh tâm tả hỏa. Trong bài Sôn chi tử có tác dụng thanh tâm tả hỏa, lương huyết chỉ đới; Xa tiền thảo, Đạm trúc diệp có tác dụng thanh tâm đạo xích, khiến cho tâm hỏa theo tiểu tiện mà ra ngoài; Mạch môn thanh tâm dưỡng âm; Sinh địa hoàng thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết. các vị cùng dùng có công dụng dưỡng tâm âm, khi tâm âm đã đủ thì tâm hỏa tự an, đới hạ cũng trở lại bình thường.

NHIỄM TRÙNG SAU KHI SANH

Bài 1: Giải độc sinh hóa trà

Bài thuốc:

Liên kiều 15g, Bồ công anh 20g, Hồng hoa 10g, Bại tương thảo 30g, Xích thược 12g, Đào nhân 12g, Mẫu đơn bì 10g, Sinh địa hoàng 25g.

Chủ trị:

Chữa sãn hậu phát sốt thuộc thể nhiệt độc ủng thịnh. Chứng thấy sau khi sanh 3-4 ngày, sốt cao không lui hoặc có rét run, đầu đau trướng, tâm phiền không yên, miệng khô muốn uống, bụng trướng cự án, máu hôi ra nhiều mà tanh hôi, cầu bón, tiểu vàng.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, lương huyết tiêu ứ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 4 chén nước sác còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén hòa chung chia ra uống trong ngày.

Cấm kỵ:

Người sau khi sanh khí huyết suy hư, vị hàn thận hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa sau khi sanh tà độc xâm nhập bào cung, lan tràn khắp cơ thể. Chữa nên thanh nhiệt giải độc, lương huyết hóa ứ. Trong bài Bồ công anh, Liên kiều đều có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết tiêu thủng chỉ thống. có tác dụng kháng, ức khuẩn đối với các bệnh cảm nhiễm, nhất là cảm nhiễm do vi khuẩn; Hồng hoa, Bại tương thảo có tác dụng hạ thấp và ức chế khuẩn ở đường sinh dục; cảm nhiễm sau khi sanh khi nhiệt độc đang thịnh nhiệt tà thường xâm nhập vào huyết phận cho nên phối với Sinh địa hoàng, Mẫu đơn bì, Xích thược có tác dụng lương huyết hóa ứ; Đào nhân có tác dụng hóa ứ thông phủ làm cho nhiệt độc ra theo đường đại tiện. Tiện được thông thì nhiệt lui hết phân nữa, mà đau bụng cũng giảm nhẹ. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết hóa ứ bài này dùng với liều lượng cao thì hiệu quả càng mạnh hơn, tùy theo mức độ nhiễm khuẩn nặng hay nhẹ mà gia giảm, để phòng trị bệnh đồng thời không làm tổn thương chính khí.

Bài 2: Thanh dinh sinh hóa trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 20g, Tử thảo 15g, Mẫu đơn bì 12g, Kim ngân hoa 15g, Liên kiều 15g, Thủy ngưu giác 20g, Huyền sâm 15g.

Chủ trị:

Chữa sau khi sanh phát sốt thuộc nhiệt nhập dinh huyết với các triệu chứng sốt cao niều ngày không lui, phiền táo không yên, có lúc mê man, máu hôi lúc nhiều lúc ít, đặc, miệng khô môi nám, cầu táo tiểu đỏ, chất lưỡi đỏ tươi ít rêu, mạch tế sác.

Công hiệu:

Thanh dinh lương huyết hóa ứ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 4 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén hòa chung chia ra uống trong ngày.

Cấm kỵ:

Sau khi sanh khí hư phát sốt và vị hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa chứng tà độc nhập vào dinh phận, hun đốt dinh âm mà sinh bệnh. Chữa nên thanh dinh lương huyết hóa ứ. Trong bài Thủy ngưu giác, Huyền sâm, Sinh địa hoàng có tác dụng dưỡng âm thanh dinh; Mẫu đơn bì, Tử thảo lương huyết hóa ứ; Kim ngân hoa, Liên kiều thanh nhiệt giải độc. Các vị hợp dùng làm thanh nhiệt độc hòa dinh âm, huyết ứ được hóa mà nhiệt tự lui.

Bài 3: Ích mẫu cam lộ trà

Bài thuốc:

Ích mẫu thảo 25g, Hoạt thạch 20g, Nhân trần 20g, Hoàng cầm 12g, Hậu phác 12g, Đào nhân 12g, Sơn tra 12g, Liên kiều 12g.

Chủ trị:

Chữa sản hậu phát sốt thuộc chứng thấp nhiệt uất tích. với các triệu chứng sau khi sanh sốt nhẹ, đầu trướng thân nặng, tức ngực người lừ đừ, nôn ọe, miệng khô không muốn uống, bụng dưới trướng đau, máu hôi ra tanh hôi, chất lưỡi hồng, mạch tế nhu

Công hiệu:

Thanh nhiệt hóa thấp khử ứ sinh tân.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 4 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén hòa chung chia ra uống trong ngày.

Cấm kỵ:

Sau khi sanh khí hư phát sốt, vị hàn khôngnên dùng bài này.

Lời bình:

Sau khi sanh khí huyết lưỡng hư, tỳ không kiện vận, nên mau chóng bồi bổ bằng thức ăn, ngược lại sẽ ủ thành thấp nhiệt. Ngoài ra do dùng quá nhhiều thuốc kháng sinh đặt biệt là (灭滴灵) metronidazole. Thường gây hiện tượng thấp nhiệt, thấp nhiệt uất bên trong dây dưa lâu ngày, cùng kết với ứ huyết cho nên phát ra bệnh này. Chữa nên thanh nhiệt lợi thấp kiêm khử ứ. Trong bài Hoạt thạch, Nhân trần, Hoàng cầm, Hậu phác, Đào nhân, Liên kiều để thanh nhiệt lợi thấp; Ích mẫu thảo, Sơn tra khử ứ sinh tân. Các vị cùng dùng có công dụng khử thấp nhiệt, tà nhiệt tự giáng.

THIẾU SỮA

Bài 1: Thông nhũ trà

Bài thuốc:

Sài hồ 10g, Xuyên luyện tử 10g, Lậu lô 10g, Thông thảo 10g, Vương bất lưu hành 10g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Sau khi sanh 1 tuần hoặc trong thời gian bú sữa xuống ít hoặc không xuống. Bầu vú căng đau, ngực sườn đầy tức. Tình chí ưu uất hoặc trong lòng bực bội hay cáu gắt, mạch huyền.

Công hiệu:

Sơ can lý khí, hành trệ thông nhũ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Thiếu sữa do khí huyết khuy hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Các chứng trạng chủ yếu của bài này là sau khi sanh tình chí không được thoải mái, buồn giận làm tổn thương can, can khí uất kết không thư thái, nhũ mạch ngưng trệ không hành, nhũ trấp vận hành không thông mà phát sinh bệnh. “Thịnh giả sơ chi” do đó khi chữa bệnh này nên sơ can giải uất, lý khí thông nhũ. Trong bài Sài hồ, Xuyên luyện tử có tác dụng giải can uất, tiết can khí; Lậu lô thư can thông mạch, tiêu ung hạ nhũ; Vương bất lưu hành có tác dụng tán kết thông lạc hạ nhũ, Là vị thuốc quan trọng để hạ nhũ; Cam thảo điều hòa chư dược. Các vị cùng dùng có công dụng sơ can giải uất, thông lạc hạ nhũ.

Bài 2: Hạ nhũ trà

Bài thuốc:

Vương bất lưu hành 10g, Thông thảo 10g.

Chủ trị:

Chữa sau khi sanh thiếu sữa. Sau khi sanh sữa không xuống hoặc ít dần, lưỡi đỏ, mạch sác.

Công hiệu:

Thông lạc hạ nhủ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén uống ấm. Cũng có thể thêm Đậu phộng, móng heo hầm lấy nước uống.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dương hư, vị hàn thận trọng khi dùng.

Lời bình:

Khí trệ đàm ứ ở nhủ mạch không thông là 1 trong những nguyên nhân gây thiếu sữa sau khi sanh. Chữa nên thông lạc hạ nhũ. Trong bài Vương bất lưu hành có thể thông lạc hạ nhũ, Thông thảo vị nhạt cơ thể nhẹ, có công năng hạ khí thông nhũ, làm cho khí dương minh thăng lên trên mà nhũ trấp tự có. 2 vị cùng dùng chung vớpi nhau có công dụng thông kinh hạ nhũ. Nếu vú căng nhiều gia Thanh bì 10g, Bạch chỉ 10g; Bầu vú trướng đau có cảm giác nóng gia Bồ công anh 20g, Liên kiều 12g. Ngoài ra cũng có tác dụng thúc sữa, Đậu phộng hòa vị kiện tỳ  lại chữa phụ nữ thiếu sữa. Vì thế có thể dùng các vị thuốc trên hầm chung với Đậu phọng, móng heo để lấy nước làm tăng cường tác dụng thông sữa.

HỒI NHŨ (DỨT SỮA)

Bài 1: Mạch nha trà

Bài thuốc:

Sao mạch nha 100g.

Chủ trị:

Chữa cần phải thôi bú.

Công hiệu:

Dứt sữa.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, hoặc 1 ngày 2 thang. Đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén uống ấm, uống liên tục 5 ngày.

Cấm kỵ:

Trong thời gian dứt sữa không nên ăn chân giò heo, đậu phộng, Mộc qua, cá giếc(鲫鱼) là các món gây nhiều sữa. Không ăn sinh mạch nha.

Lời bình:

Mạch nha vị ngọt bình, có công năng hành khí tiêu thực, thoái nhũ tiêu trướng. “Điền nam bản thảo” nói rằng: “khoan trung, hạ khí …… cùng chữa bệnh phụ nhân sữa không thu, sữa không cầm.” sách “Y học ai trung tham tây lục” nói: “Đại mạch nha, có thể vào tỳ vị, tiêu hóa hết các thức ăn uống trong dạ dày, …… sữa là do huyết hóa thành, muốn tiêu được sữa, thì phải kiêm phá huyết, cho nên gọi là hồi nhũ”. Trên thực tế Mạch nha  vừa có thể sinh nhũ (tạo ra sữa), vừa có thể hồi nhũ(dứt sữa). dựa trên lý thuyết thì Sinh Mạch nha có thể làm tăng quá trình chuyển hóa sữa của huyết thanh, nâng cao tác dụng làm tăng tuyến vú. Sao Mạch nha có thể hành khí tiêu trướng hồi nhũ, tuy nhiên điều này không hoàn toàn chính xác. Nhưng trên lâm sàng rõ ràng có hiệu quả rõ rệt. Thường phải uống liên tục từ 3-5 ngày. Nếu bầu vú căng cứng có cảm giác nóng thì gia Bồ công anh 20g, để thanh nhiệt tán kết; Nếu bầu vú Trướng kèm có khối cứng thì gia Xích thược 12g, Đào nhân 12g để tán kết thông ứ.

Bài 2: Khúc anh trà

Bài thuốc:

Kiên khúc 60g, Bồ công anh 30g.

Chủ trị:

Chữa phụ nữ muốn dứt sữa mà kèm có chứng đàm thấp ứ trệ. Các triệu chứng xuất hiện là bầu vú trướng, tức ngực, người lừ đừ, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt tiêu trệ hồi nhũ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang. Đổ 5 chén sắc còn 2 chén, uống thay nước trà.Đồng thời nhân lúc bả thuốc còn nóng cho vào túi vải chườm vào vú.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư hàn không dùng bài này. Cử không ăn các thực phẩm làm tăng tiết sữa như: Móng heo, Đậu phộng, Mộc qua, Tức ngư. Không dùng sinh mạch nha.

Lời bình:

Kiên khúc là từ Thần khúc gia Hậu phác, Hương phụ, Tử tô, Thương truật, Chỉ thực, Đại phúc bì, Hoắc hương, Bạch chỉ, La bặc tử, Mạch nha, Sơn tra chế thành. Có tác dụng tiêu thực hòa trung hóa thấp. Bồ công anh thanh nhiệt giải độc, thông nhũ tiêu ung. Cả 2 hợp dùng vừa có tác dụng thanh nhiệt tiêu trệ, vừa hóa thấp hồi nhũ. Bài này thích hợp với sản phụ muốn dứt sữa mà kèm có thấp, có trệ. Bồ công anh có thể phòng ngừa chứng nhũ ung. Thuốc sau khi sắc xong lấy xác thuốc lúc còn nóng đắp vào vú. Vừa ôn kinh thông lạc vừa tiêu ung hồi nhũ.

Bài 3: Đào hồng ích mẫu trà

Bài thuốc:

Đào nhân10g, Hồng hoa 10g, ích mẫu thảo 20g, Sao mạch nha 60g, Sơn tra 15g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa sản phụ sau khi sanh muốn dứt sữa mà kèm có ứ trệ hoặc sau khi sanh mà kèm có máu hôi ra không dứt. Xuất hiện các triệu chứng bầu vú căng trướng hoặc đau tức, máu hôi rỉ rả ra không dứt, lưỡi có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.

Công hiệu:

Hoạt huyết hành ứ, thông lạc hồi nhũ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư hàn không dùng bài này. Không ăn các thức ăn gây tăng tiết sữa móng heo, đậu phộng, mộc qua, tức ngư 鲫鱼. Không ăn sinh mạch nha.

Lời bình:

Trong bài Đào nhân, Hồng hoa có tác dụng họat huyết hành ứ thông lạc; Ích mẫu thảo hoạt huyết hành ứ; Sao Mạch nha, Sơn tra tiêu trệ hồi nhũ. Các vị thuốc cùng dùng có công dụng thông lạc hoạt huyết, hồi nhũ. Bài này thích hợp với sản phụ sau khi sanh muốn dứt sữa lại kèm có máu hôi ra không dứt. Bầu vú căng tức nhiều gia Chỉ xác 10g, Thanh bì 10g, Sữa nhiều gia sao mạch nha 100g, bội lượng kiên khúc 30g để tăng sức hồi nhũ.

MỘNG GIAO

Bài 1: Thanh tâm trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 15g, Mạch nha 12g, Phục thần 20g, Sinh địa hoàng 20g, Huyền sâm 15g, Đăng tâm hoa 10 cọng.

Chủ trị:

Chữa phụ nữ nằm mơ giao hợp với phụ nữ, tim đập nhanh, tâm phiền, miệng lưỡi lở, tiểu ngắn vàng, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.

Công hiệu:

Thanh tâm an thần.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén hòa chung chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Người tỳ thận dương hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này do tâm âm bất túc, tâm hỏa vượng mà gây ra. Chữa nên thanh tâm tả hỏa, dưỡng tâm an thần. Trong bài Thái tử sâm, Mạch nha ích khí dưỡng âm, thanh tâm tả hỏa; Huyền sâm, Sinh địa hoàng tư âm tăng dịch, hạ tâm hỏa thịnh; Đăng tâm hoa thanh tâm tả hỏa; Phục thần an thần định chí. Các vị cùng dùng làm thanh tâm hỏa, thần chí tự an mà an thần, ít mộng mị.

Bài 2: Tư âm an thần trà

Bài thuốc:

Miết giáp 25g, Mẫu đơn bì 15g, Phục thần 20g, Hạn liên thảo 15g, Toan táo nhân 15g, Dạ giao đằng 20g.

Chủ trị:

Chữa phụ nhân hay nằm mơ thấy giao hợp cùng với người khác, kinh không đều, cơ thể gầy ốm, sốt về chiều, lưng gối yếu mõi, lưỡi đỏ, mạch tế sác.

Công hiệu:

Tư âm giáng hỏa, an thần định chí.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dương hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa thận âm hao tổn, mất chức năng bế tàng, âm hư hỏa vượng, tinh thần dao động vật vờ, chữa nên tư âm giáng hỏa, tư thận an thần. Trong bài Miết giáp tư thận âm, thanh hư hỏa, thoái hư nhiệt; Mẫu đơn bì tả tướng hỏa để tư âm thanh nhiệt; Phục thần, Toan táo nhân an thần định chí; Hạn liên thảo, Dạ giao đằng ích âm an thần. Các vị cùng dùng có công dụng dưỡng âm, thanh hư nhiệt, tướng hỏa không động thần an hồn định, tinh có thể trú ở trong thì các chứng đều trừ.

NGỨA ÂM HỘ

Bài 1: Tỳ giải tả thấp chỉ dượng trà

Bài thuốc:

Tỳ giải 20g, Ý dĩ nhân 20g, Thương truật 12g, Bạch tiễn bì 12g, Thổ phục linh 30g, Nhân trần 20g, Long đởm thảo 10g.

Chủ trị:

Chữa ngoại âm ngứa thuộc can kinh thấp nhiệt đưa xuống xuất hiện các triệu chứng âm hộ ngứa đau nhức, nặng thì nằm ngồi không yên, bạch đới tăng, sắc vàng chất đặc, có lúc có mùi hôi tanh, tiểu ngắn đỏ, cầu bón, người hay bực bội dễ nổi giận, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp tả thấp chỉ dượng.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống. Xác thuốc còn lại cho nước vào sắc tiếp lấy nước xông rửa âm hộ.

Cấm kỵ:

Ngứa âm hộ thuộc huyết hư phiền táo, tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Âm hộ là nơi phân bố của can kinh, khi can uất thì thấp và nhiệt cùng kết lại dẫn xuống âm hộ mà gây ra ngứa. Chữa nên tả can thanh nhiệt, lợi thấp chỉ dượng. Trong bài tỳ giải có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp; Ý dĩ nhân, Thương truật có tác dụng kiện tỳ hóa thấp; Bạch tiễn bì thanh nhiệt táo thấp chỉ dượng, có tác dụng ức chế nhất định đối với khuẩn ngoài da. Thổ phục linh, Nhân trần thanh nhiệt giải độc; Long đởm thảo có tác dụng thanh can tả hỏa, thanh lợi thấp nhiệt. bài này vừa có thể thanh lợi thấp nhiệt, vừa tả can chỉ dượng, làm thanh thấp nhiệt, tả can hỏa mà chứng ngứa âm hộ sẽ khỏi. xác thuốc của bài này sau khi đã chắt lấy nước lại đổ thêm nước nấu tiếp ngồi ngâm rửa âm hộ. nên hiệu quả càng nhanh, từ đó đạt được ý nghĩa nội ngoại cùng trị. Tốt nhất là nên ngâm rửa vào lúc trước khi đi ngủ, để khi ngủ không có cảm giác ngứa,

Bài 2: Song tử trà

Bài thuốc:

Xà sàng tử 15g, địa phu tử 15g, Tri mẫu 10g, Hoàng bá 12g, Sinh địa hoàng 30g, Thổ phục linh 20g, Mẫu đơn bì 10g.

Chủ trị:

Chữa ngứa ngoại âm thuộc can thận âm hư. Chứng thấy âm hộ khô, có cảm giác nóng ngứa, ngũ tâm phiền nhiệt, chóng mặt hoa mắt, cũng có lúc nóng bừng ra mồ hôi, miệng khô họng ráo, lưng đau tai ù, bạch đới ít sắc vàng, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.

Công hiệu:

Tư âm giáng hỏa, dưỡng huyết chỉ dượng.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư hàn không nên chọn bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa chứng ngứa âm hộ do can thận bất túc, tinh huyết lưỡng khuy, huyết hư sinh phong hóa táo, cơ nhục ở vùng âm hộ không được nuôi dưỡng mà phát sinh bệnh. Nghiên cứu của dược lý hiện đại nêu rõ cả 2 vị đều có tác dụng diệt các loại trực khuẩn. Nước sắc xà xàng tử có tác dụng diệt trùng roi (trichomonas) là vị thuốc chính chữa ngứa ngoài da; Tri mẫu, Hoàng bá tư âm giáng hỏa; Mẫu đơn bì, Sinh địa hoàng có tác dụng thanh nhiệt lương huyết; Thổ phục linh thanh tiết thấp độc. Các vị cùng dùng có công dụng dưỡng can thận, khôi phục âm dịch, thanh thấp nhiệt mà làm hết ngứa.

VIÊM KHUNG CHẬU

Bài 1: Giải độc thanh bồn trà

Bài thuốc:

Bại tương thảo 30g, Kim ngân hoa 30g, Liên kiều 20g, Ý dĩ nhân 20g, Bồ công anh 30g, Thổ phục linh 30g.

Chủ trị:

Chữa viêm khung chậu cấp giai đoạn nhiễm khuẩn xuất hiện các triệu chứng nóng lạnh, đau đầu, bụng dưới đau dữ dội, ấn vào đau, có cảm giác trướng trằn, hoặc lợm giọng buồn nôn, huyết trắng nhiều, sắc vàng chất dính hoặc có lẩn mủ, mùi vị tanh hôi, miệng khô muốn uống, cầu bón kết hoặc lỏng nhão, tiểu vàng đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, chất lưỡi hồng, mạch hoạt sác có lực.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, hóa ứ chỉ thống.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ hư vị hàn không dùng bài này.

Lời bình:

Thấp độc xâm nhập vào bào cung, cùng với khí huyết giao chiến, ứ độc kết lại mà phát sinh ra viêm khung chậu. Chữa nên thanh nhiệt giải độc, hóa ứ chỉ thống. Trong bài Bại tương thảo có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết khử ứ, tiêu ung bài nùng; Kim ngân hoa, Bồ công anh có tác dụng thanh nhiệt giải độc; Ý dĩ nhân, Liên kiều có tác dụng lợi thấp tiêu thủng bài nùng; Thổ phục linh thanh thấp trọc, khử ứ độc. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt, hành ứ độc mà các chứng khỏi. Nếu sốt cao không hạ thì gia thanh thiên quỳ 12g; Đau bụng nhiều gia Huyền hồ sách 10g; Bụng trướng gia Xuyên luyện tử 12g; Huyết trắng vàng đặc gia Hoàng bá 12g; Tiểu tiện đỏ rát đau gia Sinh địa hoàng 20g; Xa tiền thảo 15g; Nếu sốt cao kèm có hôn mê thì uống thêm Tử tuyết đơn.

Bài 2: Hành ứ thanh bồn trà

Bài thuốc:

Đơn sâm 20g, Tạo giác thích 15g, Tam thất 10g, Bại tương thảo 20g, Nga truật 10g, Thổ phục linh 30g.

Chủ trị:

Viêm khung chậu cấp thời kỳ kết khối. Xuất hiện các chứng phát sốt, sợ lạnh, bụng dưới trướng đau ấn vào đau tăng, huyết trắng sắc vàng đặc, có mùi tanh hôi, cầu bón, miệng khô khát muốn uống. Thăm khám vùng bụng thấy có khối u và bộ phận chung quanh dày lên, ấn vào thấy đau. Lưỡi hồng rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt hóa ứ tiêu hòn khối.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa viêm khung chậu cấp là do tà xâm nhập quá sâu vào trong bào cung nên nhiệt độc cũng sâu, tà nhiệt cùng khí huyết giao tranh với nhau phát sinh ra trưng hà (hòn khối). Trong bài Đơn sâm, Tam thất có tác dụng hoạt huyết hóa ứ chỉ thống; Nga truật, Tạo giác thích hành ứ chỉ thống, nhuyễn kiên tán kết; Bại tương thảo hoạt huyết hóa ứ tán kết; Thổ phục linh thanh thấp trọc, khử ứ độc. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt hóa ứ, tiêu trưng tán kết. Tức ngực người lừ đừ không muốn ăn gia Hậu phác 10g, Sơn tra 12g; Bụng trướng gia Xuyên luyện tử 12g; Đại phúc bì 12g; Cầu bón gia Đại hoàng 10g.

Bài 3: Lợi thấp thanh bồn trà

Bài thuốc:

Thổ phục linh 30g, Nhẫn đông đằng 20g, Ý dĩ nhân 30g, Xa tiền thảo 15g, Ích mẫu thảo 20g, Nhân trần 20g.

Chủ trị:

Chữa viêm khung chậu mạn tính thuộc thể thấp nhiệt ứ trở. Xuất hiện các chứng đau lưng, xương cùng đau mõi, có lúc sốt nhẹ hoặc nhiều huyết trắng, thông qua thăm khám phụ khoa thấy vùng tử cung đau, hoạt động bị giới hạn, các phần phụ xoắn lại, béo phì ấn đau rõ hoặc viêm có tính kết khối.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp, giải độc hóa ứ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống. Bả thuốc còn lại nhân lúc còn nóng thêm muối ăn, dấm ăn mỗi thứ 1 muỗng, dùng khăn lông bọc lại đắp vào bụng dưới.

Cấm kỵ:

Tỳ hư vị hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa viêm khung chậu mạn tính do thấp tà ứ kết mà gây ra. Chữa nên thanh nhiệt lợi thấp, hóa ứ giải độc làm chủ. Trong bài Thổ phục linh lợi thấp trừ uế, lại có thể giải độc; Nhẫn đông đằng, Xa tiền thảo, Ý dĩ nhân, Nhân trần  hổ trợ Thổ phục linh lợi thấp giải độc, lại thanh nhiệt; Ích mẫu thảo hoạt huyết khử ứ, lợi niệu giải độc. Các vị cùng dùng vừa thanh nhiệt lợi thấp, giải độc hóa ứ, lại có thể phù chính dưỡng huyết. Quả là bài thuốc chữa viêm phần phụ rất hiệu nghiệm. Ngoài ra bả thuốc có thể dùng túi vải hoặc khăn lông bao lại nhân lúc còn nóng đắp vào chổ đau vùng bụng dưới. Làm cho sức thuốc thấm qua da vào tới bên trong khung chậu, đẩy nhanh hấp thu chứng viêm, đạt được hiệu quả nội ngoại cùng chữa.

Bài 4: Lý khí thanh bồn trà

Bài thuốc:

Sài hồ 12g, Chỉ xác 12g, Bạch thược 20g, Xích thược 15g, Hương phụ 10g, Xuyên luyện tử 10g, Lộ lộ thông 15g.

Chủ trị:

Chữa viêm khung chậu do khí huyết ứ trệ xuất hiện chứng đau vùng bụng dưới, lưng mông đau tái đi tái lại, huyết trắng nhiều, lại thường có loa lịch, kinh trước kỳ, tính giao hậu gia nặng, hoặc kinh không đều, lưỡi sạm có điểu ứ huyết, Mạch huyền hoặc huyền sáp.

Công hiệu:

Lý khí chỉ thống, hoạt huyết hóa ứ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia 2 lần uống. Bả thuốc nhân lúc còn nóng thêm muối ăn, dấm ăn mỗi thứ 1 muỗng dùng khăn gói lại đắp vào vùng bụng dưới.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên dùng bài này.

Lời bình:

Phụ nữ lấy can làm tiên thiên, thất tình quá nhiều can uất khí trệ thì dẫn tới huyết ứ. Bài này chữa chứng viêm khung chậu do khí trệ huyết ứ mà gây ra. Chữa nên Sơ can lý khí, chỉ thống hóa ứ. Trong bài Sài hồ, Chỉ xác, Bạch thược có tác dụng sơ can lý khí chỉ thống; Xích thược, Xuyên luyện tử hành khí hoạt huyết chỉ thống; Hương phụ lý khí chỉ thống; Lộ lộ thông tán kết thông lạc. Các vị cùng dùng có công dụng lý khí chỉ thống, hoạt huyết hóa ứ. Xác thuốc dùng vải hoặc khăn lông bọc lại nhân lúc còn nóng đắp vào bụng dưới. Làm cho thuốc qua da mà thấm tới khung chậu, để thúc đẩy hấp thu chứng viêm, đạt được hiệu quả trong ngoài cùng chữa.

U XƠ TỬ CUNG

Bài 1: Hạ hương trà

Bài thuốc:

Hạ khô thảo 12g, Hương phụ 12g, Nga truật 12g, Tam lăng 12g, Đơn sâm 20g, Ích mẫu thảo 20g.

Chủ trị:

Chữa u xơ tử cung thuộc thể huyết ứ. Khám bụng dưới thấy có khối u, chất cứng, cố định không di chuyển, đau tăng khi bị ấn vào hoặc thấy bế kinh, đau bụng kinh hoặc kinh quá nhiều, kinh kéo dài, sắc mặt sạm đen, rụng móng, miệng khô không muốn uống, rìa lưỡi có điểm ứ huyết, mạch trầm sắc.

Công hiệu:

Hoạt huyết hóa ứ nhuyễn kiên tiêu trưng.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống. Bả thuốc nhân lúc còn nóng cho chút muối ăn và dấm ăn mỗi thứ 1 muỗng bọc trong cái khăn lông chườm vào bụng dưới chổ đau.

Cấm kỵ:

Cơ thể suy nhược vị hàn thì không dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa u xơ tử cung do huyết ứ tích tụ mà thành. Ứ tắt do khí trệ, Xung nhâm không điều hòa cho nên xuất hiện các loại bệnh kể trên. Chữa nên Hoạt huyết hóa ứ, nhuyễn kiên tiêu trưng. Trong bài Hạ khô thảo có tác dụng nhuyễn kiên tán kết để hổ trợ Nga truật, Tam lăng tiêu trừ trưng hà; Nga truật, Tam lăng phá huyết tán ứ, tiêu trưng hóa tích; Hương phụ sơ can lý khí, hành khí chỉ thống; Đơn sâm tiêu trưng hành khí chỉ thống; Ích mẫu thảo hòa huyết điều kinh, hoạt huyết hóa trệ. Các vị cùng dùng có công dụng phá tiết tiêu trưng, hóa ứ chỉ thống, làm cho ứ tán trưng tiêu mà các chứng tự khỏi. Dùng khăn bọc xác thuốc nhân lúc còn nóng đắp vào bụng dưới cũng có thể tăng cường công hiệu hành ứ tán kết.

Bài 2: Thanh phong trà

Bài thuốc:

Thanh bì 10g, Phong túc xác 10g, Miêu qua thảo 15g, Sài hồ 10g, Bạch thược 20g, Hương phụ 10g, Đơn sâm 15g.

Chủ trị:

Chữa u xơ tử cung thuộc thể can uất huyết ứ. Xuất hiện chứng kinh không đều, kinh hành bụng dưới đau, kinh hành sắc bầm, lượng nhiều kèm có huyết khối, hoặc kinh hành không thông, rỉ rả không sạch, kèm có miệng khô tâm phiền, người bực bội dễ nổi giận, trước khi hành kinh bầu vú trướng, lưỡi đỏ rêu vàng, rìa lưỡi có điểm ứ huyết, mạch huyền sắc.

Công hiệu:

Sơ can hành khí, hoạt huyết hóa lựu.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần. Khi có kinh thì ngưng không uống.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn thì không dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa u xơ tử cung do can khí uất kết, khí huyêt ứ trệ, uất tích bào cung mà gây ra. Chữa nên sơ can lý khí, tiêu trưng hóa lựu. Trong bài Sài hồ, Thanh bì, Hương phụ, Bạch thược có tác dụng sơ can giải uất, hành khí thông ứ; Đơn sâm hoạt huyết hóa ứ, cùng giải uất kết; Miêu trảo thảo, Phong túc xác có tác dụng nhuyễn kiên tán kết. Các vị cùng dùng làm thông ủng tắc, đạt uất, nhuyễn kiên, tán kết từ đó đạt được mục đích hành khí hóa lựu.

HỘI CHỨNG TIỀN MÃN KINH

Bài 1: Thanh tâm bình can trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 20g, Mạch môn 15g, Bạch thược 20g, Mẫu đơn bì 12g, Phù tiểu mạch 30g, Ngũ vị tử 10g.

Chủ trị:

Chữa phụ nữ bị rối loạn tiền mãn kinh, thấy mặt nóng bừng, ra mồ hôi,  tâm phiền hay nổi giận, miệng khô, mất ngủ, tim đập nhanh, hồi hộp, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh tâm bình can.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần trong ngày.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dương hư không nên chọn dùng bài này

Lời bình:

Hội chưng tiền mãn kinh là một loại bệnh ở tâm và cơ thể. Bệnh phát sinh có liên quan đến yếu tố sinh lý, và yếu tố tâm lý tinh thần. Dựa trên cơ sở tâm chủ thần minh, can chủ tình chí, tác dụng chủ yếu của tâm can là điều tiết tinh thần tình chí. Tâm thuộc hỏa can thuộc mộc tính của tâm hỏa đều thăng phát, bốc lên trên. Mồ hôi là chất dịch của tâm, do tâm hỏa tích bên trong nên bức tân dịch tiết ra ngoài cơ thể, và làm chủ từ ½ người trở lên. Can hỏa có tính nóng bốc lên trên nên (thượng viêm) cho nên thấy nóng bừng. Tim đập nhanh, hồi hộp, người bực bội dễ tức giận, mất ngủ đều là chứng của tâm can hỏa vượng, gây nhiễu loạn thần minh mà gây nên bệnh. Khi luận trị nên dựa theo tâm, can mà luận trị. Chữa nên thanh tâm bình can làm chủ. Trong bài Thái tử sâm, Mạch môn có tác dụng thanh tâm hỏa, dưỡng tâm âm mà an thần; Bạch thược, Mẫu đơn bì thanh can tiết nhiệt, dưỡng âm nhu can; Phù tiểu mạch, Ngũ vị tử liễm hãn dịch. Các vị cùng dùng có tác dụng thanh nhiệt ở tâm can, dưỡng tâm an thần, nhu can liễm âm, trừ phiền chỉ hãn.

Bài 2: Tư thận bình can trà

Bài thuốc:

Sơn thù nhục 15g, Sinh địa hoàng 20g, Mẫu đơn bì 12g, Tang ký sinh 30g, Bạch thược 20g, Hạn liên thảo 20g.

Chủ trị:

Chữa tiền mãn kinh thuộc thận hư can vượng. Chứng thấy rối lọan kinh nguyệt hoặc đã tuyệt kinh, đau đầu, tai ù, mặt nóng bừng ra mồ hôi, người bực bội dễ nổi giận, lưng mõi yếu, cầu táo, lưỡi hồng ít rêu, Mạch tế sác hoặc huyền sác.

Công hiệu:

Tư thận ích âm, bình can an thần.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Nên ăn uống thanh đạm, hạn chế xúc động, giữ cho tâm trí nhẹ nhàng, không ăn các thức ăn cay nóng kích thích. Người tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa chứng rối loạn tiền mãn kinh thuộc thể can thận âm hư hỏa vượng. Chữa nên tư dưỡng can thận an thần định chí. Trong bài Sơn thù nhục dưỡng âm ích can thận; Sinh địa hoàng tư can thận mà lương huyết; Mẫu đơn bì thanh nhiệt tả tướng hỏa; Bạch thược vào can, dưỡng huyết liễm âm bình can; Tang ký sinh, Hạn liên thảo ích dưỡng can thận. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt bình can, tư thận an thần.

Bài 3: Bách hợp phục thần trà

Bài thuốc:

Bách hợp 30g, Phục thần 20g, Sinh địa hoàng 20g, Mạch môn 15g, Hợp hoan bì 15g.

Chủ trị:

Chữa rối loạn tiền mãn kinh thuộc thể âm hư hỏa vượng, xuất hiện tinh thần hoảng hốt, tâm phiền dễ nổi giận, thần chí không yên, khóc cười vô chừng, đêm ngủ hay chiêm bao mơ mộng, miệng khô hay muốn uống, khi nóng, khi lạnh, miệng khát, tiểu ngắn đỏ, chất lưỡi hồng, rêu hơi vàng, mạch tế sác.

Công hiệu:

Dưỡng huyết an thần, tư âm nhuận táo.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Rối loạn tiền mãn kinh thể thận dương hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa chứng rối loạn tiền mãn kinh do âm huyết khuy hư, hư hỏa quấy động bên trong dẫn tới thần chí không yên. Chữa nên dưỡng huyết tư nhuận, ninh tâm an thần. Trong bài Bách hợp có tác dụng dưỡng âm thanh nhiệt, ninh tâm an thần; Sinh địa hoàng tư dưỡng thận âm, lương huyết thanh nhiệt; Mạch môn có tác dụng dưỡng tâm tư âm ninh thần; Phục thần, hợp hoan bì an thần định chí giúp ngủ ngon. Các vị cùng dùng có công dụng khôi phục âm tân, điều bách mạch, thần ở yên ỡ bên trong thì các chứng tự khỏi. Tâm phiền thì gia Sơn chi tử 10g, Dạ giao đằng 15g để thanh tâm trừ phiền; Người u uất không vui gia Tố hinh hoa 10g, Xuyên luyện tử 12g, để sơ can giải uất; Đau tức vùng hông sườn gia Bạch thược 20g để hoãn cấp nhu can chỉ thống; Hư nhiệt gây đổ mồ hôi gia Tri mẫu 12g, Phù tiểu mạch 30g để dưỡng âm liễm hãn.

Bài 4: Thanh tâm cánh niên trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 25g, Mạch môn 15g, Thiên môn 15g, Phục thần 15g, Đạm trúc diệp 10g.

Chủ trị:

Rối loạn tiền mãn kinh do tâm âm bất túc, tâm huyết thiểu xuất hiện chứng kinh hết chóng mặt tim đập nhanh hồi hộp, kinh sợ, tâm phiền mất ngủ, ngũ tâm phiền nhiệt, sốt cơn ra mồ hôi, miệng khô họng ráo, cầu phân khô kết, rìa lưỡi chót lưỡi hồng, mạch tế sác.

Công hiệu:

Thanh tâm tả hỏa, ninh tâm an thần.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tâm dương hư, tỳ thận dương hư, vị hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Tâm chủ huyết mạch mà tàng thần, tâm huyết khuy hư không đủ để nuôi dưỡng tâm thần thì phát sinh các chứng tim đập nhanh, hồi hộp, trong lòng bực bội mất ngủ. Chữa nên tư tâm âm, dưỡng tâm huyết, ninh tâm thần. Trong bài Sinh địa hoàng tư dưỡng âm dịch, thanh nhiệt lương tâm; Mạch môn, Thiên môn dưỡng âm thanh nhiệt, hổ trợ Sinh địa hoàng để dưỡng tâm âm, trừ phiền nhiệt; Đạm trúc diệp thanh tâm tả hỏa; Phục thần dưỡng tâm an thần. Các vị cùng dùng có công dụng dưỡng tâm âm, giáng tâm hỏa, mà an thần tự ninh, các chứng tự trừ.

NAM KHOA

DƯƠNG NUY

Bài 1: Thanh tâm khởi nuy trà.

Bài thuốc:

Sơn chi tử 10g, Long đởm thảo 15g, Tri mẫu 10g, Hoàng bá 10g, Thổ phục linh 30g, Sinh địa hoàng 20g, Thiên môn 15g.

Chủ trị:

Chữa dương nuy thuộc thể tâm can hỏa vượng. Thấy dương vật không cứng, tâm phiền  khát nước, hay nổi giận, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh tâm tả can khỡi nuy.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Thận hư dương nuy không chọn dùng bài này.

Lời bình:

Sách “Linh khu thiên cân” nói: “túc quyết âm chi cân kỳ bệnh âm khí bất dụng, thương vu nội tắc bất khởi” “cân thuộc kinh túc quyết âm, khi có bệnh thì âm hành không cương, là do bên trong bị tổn thương thì không cương cứng được.” Y học cổ truyền cho rằng âm hành thuộc can, can thận đồng nguyên(cùng một nguồn gốc) khi can kinh uất nhiệt lâu thì hóa hỏa dẫn xuống dưới làm hao tổn thận âm, thận khuy thủy thiếu nên không thể đưa lên tâm để tư dưỡng, hỏa tâm can thịnh thì làm tổn thương cân mạch, cân mạch tổn thương mà không cương cứng được. Do đó khi chữa chứng dương nuy cần phải phân rõ do âm hay dương thiên thịnh. Nếu thấy dương nuy mà vội dùng các loại thuốc tráng dương bổ thận như: Lộc vỹ ba 鹿尾巴, Ba kích, Dương khởi thạch. Dương càng tráng thì dương vật càng teo không cử động, đó là hiện tượng cây thiếu nước nên khô héo cần phải tưới nước (tư âm). Mà không nên dùng các loại thuốc tráng dương. Do đó chứng dương nuy thuộc thể tâm can hỏa thịnh. chữa nên thanh tả hỏa ở tâm, can. Trong bài Sơn chi tử Thanh tâm tả hỏa; Long đởm thảo thanh can tả hỏa, trừ thấp nhiệt. Thổ phục linh thanh thấp nhiệt; Hoàng bá kiêm tả tướng hỏa; Sinh địa hoàng, Tri mẫu, Thiên môn tư âm tăng dịch, làm cho thận thủy được đưa lên giao thông với tâm, tâm hỏa hạ giáng mà không bốc lên nữa. Các vị thuốc phối ngũ trong bài vừa tả hỏa ở tâm can vừa tư âm dịch ở can thận làm cho cân được nhuận mà phần dương đang héo rũ được khởi.

Bài 2: Sơ can khởi nuy trà

Bài thuốc:

Sài hồ 15g, Bạch thược 20g, Mẫu đơn bì 12g, Long đỡm thảo 15g, Ý dĩ nhân 20g, Xuyên luyện tử 12g.

Chủ trị:

Chữa chứng dương nuy do can đởm thấp nhiệt hạ chú. Chứng thấy âm hành không cương cứng, hoặc cương mà không cứng, bìu dái hâm lở, cơ thể nặng nề, tâm phiền  khát nước, tiểu ngắn đỏ, lưỡi hồng rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Sơ can thanh nhiệt khởi nuy.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Thận dương hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Sách “Y thuật” nói rằng: “người còn trẻ mà bị dương nuy có nguyên nhân là do thất chí, chữa nên thư uất……..thông ý chí, thì dương khí tự thư, mà nuy tựkhởi vậy.” Trong bài Sài hồ, Mẫu đơn bì, Bạch thược, Xuyên luyện tử có tác dụng sơ can uất để giải cơ; Long đởm thảo tả can đởm mà thanh thấp nhiệt; Ý dĩ nhân thanh nhiệt lợi thấp. Các vị cùng dùng có công dụng sơ can lợi đởm, thanh nhiệt khử thấp. Lòng ngực đầy tức gia Uất kim 15g; Lưng gối yếu sức gia Tang ký sinh 20g; Mất ngủ hay mơ mộng gia hợp hoan bì 15g, Thấp nhiệt nhiều gia Sơn chi tử 12g, Hoạt thạch 20g.

Bài 3: Dục âm khởi nuy trà

Bài thuốc:

Trạch tả 12g, Mẫu đơn bì 12g, Sinh địa hoàng 20g, Quy bản 25g, Miết giáp 25g.

Chủ trị:

Chữa dương nuy thể âm hư dương kháng kèm thấy lưng gối yếu sức, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng khô lưỡi ráo, tiểu ngắn đỏ, cầu bón, lưỡi hồng ít rêu, mạch tế sác.

Công hiệu:

Dục âm tiềm dương khởi nuy.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Thận dương hư không chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Quy bản, Miết giáp dưỡng âm tiềm dương; Hoàng bá tả tướng hỏa mà tư thận thủy; Mẫu đơn bì tư âm thanh nhiệt; Sinh địa hoàng, Trạch tả thanh nhiệt tả thận hỏa. Các vị cùng dùng có công dụng tư thận âm mà hư hỏa tự giáng, tông cân (dương vật) nhuận mà tự khôi phục chức năng.

DI TINH

Bài 1: Đơn trạch liên tu trà

Bài thuốc:

Mẫu đơn bì 15g, Trạch tả 15g, Liên tu 15g.

Chủ trị:

Chữa di tinh do tướng hỏa vọng động. chứng thấy di tinh, tâm phiền hay mộng, miệng khô họng ráo, hoặc tai ù mồ hôi trộm, tiểu vàng đục, lưỡi hồng, rêu vàng, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Tả tướng hỏa, chỉ di tinh.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, ngày 2 thang, nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén. Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Di tinh do thận khí hư không dùng bài này.

Lời bình:

Thận âm hư thì tướng hỏa vọng động, quấy nhiễu tinh thất, tinh quan không cố nên tinh dịch tự chảy. Chữa nên tả thận hỏa mà sáp tinh. Trạch tả, vị ngọt nhạt tính hàn, là thuốc tiết nhiệt giáng trọc, có thể tiết tướng hỏa trong thận để bảo tồn âm dịch. Cho nên “Bản thảo thông huyền” nói rằng: “tướng hỏa vọng động mà di tiết, được Trạch tả thanh mà tinh tự tàng. Khí hư hạ hãm mà tinh hoạt, nhờ Trạch tả giáng xuống mà tinh hết hoạt.” vì vậy trên lâm sàng cần phải chú ý biện chứng khi sử dụng. Mẫu đơn bì có tác dụng lương huyết tả tướng hỏa, “sách bản thảo cầu chân” nói rằng: “Đơn bì có thể tả hỏa trong âm, làm cho hỏa lui mà âm sinh, có thể vào kinh túc thiếu âm mà hổ trợ tư bổ.” Liên tu cố thận sáp tinh chỉ thống, “bản kinh phùng nguyên” nói: “Liên tu, thanh tâm thông thận, vị chát, nên là thuốc quan trọng để bế sáp tinh khí.” 3 vị cùng dùng có công dụng tả hỏa, sáp tinh chỉ di.

Bài 2: Thanh nhiệt lợi thấp chỉ di trà

Bài thuốc:

Sơn chi tử 10g, Long đởm thảo 10g, Sinh địa hoàng 25g, Trạch tả 10g, Xa tiền thảo 15g, Thổ phục linh 30g.

Chủ trị:

Chữa di tinh do can đởm thấp nhiệt. Chứng thấy di tinh, phiền táo dễ nổi giận, ngực sườn đầy tức, mặt tai đỏ tía, đại tiện bón kết, tiểu vàng, lưỡi hồng rêu vàng nhớt, mạch hoạt hoặc huyền sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp chỉ di.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén nước, sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Thận dương hư không nên dùng bài này.

Lời bình:

Di tinh, có nguyên nhân là do nguyên dương hư suy, tinh quan bất cố; Có nguyên nhân là do tâm tướng hỏa vượng, tinh mất sự bế tàng; Có nguyên nhân là do thấp nhiệt hạ chú nhiễu động tinh thất. Khi chữa thì phải xem xét nguyên nhân từ đó mới biện chứng. Nguyên dương không đủ nên bổ thận sáp tinh; Tâm tướng hỏa vượng thì nên tả hỏa ở tâm thận; Thấp nhiệt thì nên thanh nhiệt lợi thấp. Trên lâm sàng không thể thấy di tinh thì tùy tiện cho rằng là do thận hư gây ra, vội dùng các thuốc tráng dương bổ sáp. Bài này chữa di tinh do nhiệt ở can đởm hạ chú xuống mà gây ra. Chữa nên thanh can lợi đởm, tả thấp trọc, chỉ di tinh. Trong bài Sơn chi tử, Long đởm thảo có tác dụng thanh tả thấp nhiệt ở can đởm; Sinh địa hoàng thanh lương tả hỏa; Xa tiền thảo lợi thấp tả trọc; Trạch tả, Thổ phục linh tả trọc, thanh thấp, giải độc. Các vị cùng dùng để thanh thấp nhiệt, tinh thất an ninh, di tinh tự cầm.

Bài 3: Thanh tâm sáp tinh trà

Bài thuốc:

Bách hợp 30g, Mạch môn 12g, Liên tu 10g, Khiếm thực 25g, Phục thần 20g, Bạch thược 30g.

Chủ trị:

Chữa mộng di thấy tâm phiền nhiều mộng, tinh theo mơ mà ra, thần chí hốt hoảng, miệng khô, chất đỏ, mạch sác.

Công hiệu:

Thanh tâm giáng hỏa, sáp tinh chỉ di.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần.

Cấm kỵ:

Tinh hoạt mộng di do thận dương hư không nên dùng bài này.

Lời bình:

Trương cảnh nhạc đời thanh cho rằng: “tinh tàng chứa ở thận, mà chủ tể là tâm.” Dụ gia ngôn đời Thanh nói rằng: “tâm là phủ tình dục.” tâm tư không được như ý, làm tổn thương tình dục, tư tưởng vô cùng mà mơ thấy ảo ảnh, ý dâm du ngoại, sắc dục trống rỗng nên tinh theo mộng mà tự ra. Chữa nên thanh tâm giáng hỏa, điều tình chí. Trong bài dùng Bách hợp có tác dụng “liễm khí ích tâm, an thần định hồn”, Phục thần an thần định chí; Mạch môn thanh tâm tả hỏa; Bạch thược nhu can sơ can; Liên tu, Khiếm thực sáp tinh chỉ di. Các vị cùng dùng trong thanh có sáp, sáp mà không trệ là bài thuốc tốt để chữa mộng di.

CƯƠNG TRUNG

Bài 1: Sừ cương trà

Bài thuốc:

Huyền sâm 50g, Mạch môn 30g, Tri mẫu 12g, Xuyên ngưu tất 15g, Hoàng bá 12g.

Chủ trị:

Chữa cường trung thuộc thể âm hư dương kháng. Chứng thấy âm hành cương hoài không mềm, ham muốn tình dục, kèm thấy ngũ tâm phiền nhiệt, miệng lưỡi khô ráo, lưng gối yếu sức, lưỡi đỏ mạch tế sác.

Công hiệu:

Tư âm giáng hỏa đảo dương.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Không dùng thuốc tráng dương, cử rượu.

Lời bình:

Bài này từ thần phương Hoa đà chữa cường trung ghi chép lại. “Hoa đà thần y bí truyền” rằng: “cường trung là muốn nói cường dương bất đảo, đây là do hư hỏa bốc lên mà khí của phế kim không giáng xuống.” Chữa nên dưỡng âm thanh nhiệt, dẫn hỏa quy nguyên. Trong bài Mạch môn khổ hàn là thuốc thanh tâm nhuận phế, có thể tả phục hỏa trong phế; Huyền sâm có tác dụng tư âm nhập thận, vừa có thể tư thận âm, giáng hư hỏa, lại thanh nhiệt ở phế; Tri mẫu tư thận thủy, tả thận hỏa; Hoàng bá thanh tả tướng hỏa; hợp với xuyên ngưu tất để dẫn hỏa quy nguyên. Các vị cùng dùng có công dụng làm cho hư hỏa tự quy nguyên mà dương vật mềm, chân âm sung túc mà chính khí không bị tổn thương.

Bài 2: Tả thấp đảo dương trà

Bài thuốc:

Nhân trần 30g, Thổ phục linh 50g, Trạch tả 12g, Hoàng bá 10g, Long đởm thảo 12g, Đơn sâm 20g, Xuyên luyện tử 12g.

Chủ trị:

Chữa cường trung do thấp nhiệt hạ chú, chứng thấy âm hành cứng không mềm, sưng trướng nóng đau, kèm có ngực bụng trướng đau, bìu dái hăm lở, tiểu vàng, lưỡi hồng rêu nhớt mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh niệt lợi thấp, thông lạc đảo dương.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Dương hư, vị hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Uống quá nhiều rượu, ăn quá nhiều đồ chiên xào ngọt béo, làm cho thấp nhiệt uất ở bên trong, ham muốn kéo dài nhục dục, cố nín làm cho tinh lâu ra, tinh ứ tắc ở hạ tiêu, làm cho lạc mạch ở dương vật bế tắc không thông phát sinh chứng dương cường. Chữa nên thanh lợi thấp nhiệt, thông lạc. Trong bài Nhân trần, Thổ phục linh, Trạch tả có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, giáng trọc; Xuyên luyện tử hành khí bị uất trệ; Long đởm thảo tả thực hỏa ở can đỡm; Hoàng bá tả hỏa ở thận, thanh thấp nhiệt ở hạ tiêu; Đơn sâm hoạt huyết thông lạc, làm tan bại tinh ứ trệ. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt lợi thấp, hành ứ thông lạc.

HUYẾT TINH

Bài1: Địa linh trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Thổ phục linh 30g,

Chủ trị:

Chữa huyết tinh thấy miệng đắng, tâm phiền, mụn trứng cá không hết, cầu bón, tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lương huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 5 chén nước sắc còn 2 chén chia ra uống sáng chiều. Cũng có thể thêm xương sống heo hoặc thịt nạc, Mật táo hầm lấy nước uống.

Cấm kỵ:

Huyết tinh do thận dương hư thì không nên chọn dùng bài này. Cử ăn các thức ăn cay nóng.

Lời bình:

Thấp nhiệt thịnh ở bên trong, thấm vào buồng tinh, mạch náu bị tổn thương mà gây ra huyết tinh. Chữa nên thanh nhiệt tả hỏa, lương huyết chỉ huyết. Trong bài sinh địa hoàng thanh nhiệt lương huyết; Thổ phục linh thanh nhiệt lợi thấp giải độc. Thuốc tuy ít mà sức thuốc mạnh, hai vị hợp dùng có tác dụng thanh thấp nhiệt, khử tà nhiệt thất tinh được yên mà huyết lạc khôi phục. Huyết tinh tự trừ.

Bài 2: Long hoàng trà

Bài thuốc:

Long đỡm thảo 15g, Hoàng bá 12g, Sơn chi tử 10g, Sài hồ 10g, Sinh địa hoàng 20g, Mẫu đơn bì 15g, Xích thược 15g.

Chủ trị:

Chữa huyết tinh thấy hoa mắt, người bứt rức, mặt mắt đỏ, miệng đắng họng khô, cầu bón tiểu vàng, bìu dái và hội âm tức trướng, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Thanh tả thấp nhiệt lương huyết chỉ huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Huyết tinh không có thấp nhiệt vàtỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Do quá ham thích ăn các thức ăn ngọt béo, cay nóng, uống các loại rượu mạnh, làm cho thấp nhiệt uất kết trong tỳ vị, thấm vào tinh thất làm tổn thương huyết lạc, cho nên huyết tùy tinh xuất. Chữa nên thanh nhiệt lợi thấp, lương huyết chỉ huyết. Trong bài Long đỡm thảo, Sơn chi tử thanh thấp nhiệt trong can đởm; Sài hồ sơ can ích khí; Hoàng bá vị đắng tính lạnh dẫn thuốc đi xuống vào can thận để thanh thấp nhiệt ở hạ tiêu; Sinh địa hoàng, Xích thược lương huyết chỉ huyết; Mẫu đơn bì tả tướng hỏa. Các vị cùng dùng có công dụng khử tà nhiệt, thì tinh thất được yên. Trong tinh có huyết khối gia Địa du 15g, Mao căn 20g, để lương huyết chỉ huyết; 1 bên hoặc 2 bên bìu dái đau gia lệ chi hạch 12g, Huyền hồ sách 12g. để tán kết hành khí.

Bài 3: Tri bá đơn địa trà

Bài thuốc:

Tri mẫu 15g, Hoàng bá 10g, Mẫu đơn bì 15g, Sinh địa hoàng 30g, Hạn liên thảo 20g, Trạch tả 10g.

Chủ trị:

Chữa huyết tinh thuộc âm hư hỏa vượng xuất hiện trong tinh có lẩn máu, kèm thấy xạ tinh đau, vùng âm bộ nặng trằn không thoải mái, tâm phiền mất ngủ, tai ù lưng đau, miệng họng khô ráo, mạch tế sác.

Công hiệu:

Tư âm thanh nhiệt, lương huyết chỉ huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần.

Cấm kỵ:

Huyết tinh do khí hư, thận dương hư bất cố không dùng bài này.

Lời bình:

“Thận hư huyết theo tinh hạ hành, phòng lao quá độ là nguyên nhân gây ra bệnh này”. Đây là do phòng sự không có tiết chế hoặc uống các loại thuốc tráng dương quá lâu, phóng túng quá độ, làm cho tinh hao mà tướng hỏa vượng, hỏa quấy nhiễu tinh thất, bức huyết vọng hành, huyết tràn vào ống dẫn tinh mà phát sinh ra bệnh. Trong bài Sinh địa hoàng lương huyết chỉ huyết; Tri mẫu, Hạn liên thảo tư thận thủy mà tả tướng hỏa; Hoàng bá,Trạch tả thanh nhiệt lợi thủy, tả thận giáng trọc; Mẫu đơn bì lương huyết mà tả hỏa. Các vị cùng dùng có tác dụng tư âm tinh, tả tướng hỏa, dưỡng chân âm, thanh hư hỏa bên trong mà các chứng tự khỏi. Sau khi các chứng đã khỏi có thể dùng tri bá địa hoàng hoàn để trừ căn.

Bài 4: Huyết tinh thanh giải trà

Bài thuốc:

Địa cẩm thảo 30g, Lộc hàm thảo 30g, Thạch vi 20g, Mã tiên thảo 20g, Thổ phục linh 30g, Hòe hoa 20g.

Chủ trị:

Huyết tinh, chứng thấy trong tinh có máu, bìu dái nặng trằn không thoải mái, miệng đắng, miệng có vị tanh hôi, lưỡi đỏ, mạch sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần.

Cấm kỵ:

Huyết tinh thể thận hư, khí không nhiếp không nên chọn dùng bài này. Cử ăn các vị cay, dầu mỡ.

Lời bình:

Y học hiện đại cho rằng huyết tinh là do túi tinh bị viêm hoặc viêm tiền liệt tuyến cấp gây ra tổn thương các mạch máu nhỏ, huyết dịch tràn ra mà thành bệnh. Trung y cho rằng bệnh này là do thấp, nhiệt, do ứ. Chữa nên lấy thanh giải làm chủ, lợi thấp chỉ huyết làm phụ. Trong bài Địa cẩm thảo, Lộc hàm thảo, Thạch vi, Mã tiên thảo đều có tác dụng giải độc mạnh có tác dụng thanh giải đối với hệ thống sinh dục, Lại có thể chỉ huyết; Thổ phục linh hòe hoa có tác dụng lợi thấp giải độc. Các vị hợp dùng giải được nhiệt độc mà làm tiêu các chứng viêm, huyết quy kinh mà tinh huyết tự chỉ.

VIÊM TIỀN LIỆT TUYẾN CẤP VÀ MẠN TÍNH

Bài 1: Kim long trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 20g, Long đởm thảo 15g, Hoàng bá 10g, Thổ phục linh 30g, Sinh địa hoàng 30g, Xa tiền thảo 15g, Ngưu tinh thảo 20g.

Chủ trị:

Chữa cấp tính tiền liệt tuyến viêm. Thấy tiểu lắt nhắt, tiểu buốt, sốt, hoặc kèm có hội âm đau không khoan khoái, lưỡi hồng, rêu vàng, mạch sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, lợi thấp thông lâm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Cơ thể suy nhược không nên chọn dùng bài này. Cử ăn các thức ăn cay nóng.

Lời bình:

Thấp nhiệt thấm vào bàng quang làm cho khí hóa không thông nên sinh ra tiểu lắt nhắt, tiểu buốt; nhiệt độc hun đốt nên phát sốt; kinh can chạy vào bộ phận sinh dục, khi kinh can có nhiệt thì hội âm đau nhức. Chữa nên thanh nhiệt giải độc, lợi thấp. Trong bài Kim ngân hoa có tác dụng thanh nhiệt giải độc; Sinh địa hoàng, Hoàng bá có tác dụng thanh nhiệt lương huyết tả hỏa; Thổ phục linh, Long đởm thảo, Ngư tinh thảo thanh nhiệt độc, khử đàm thấp; Xa tiền thảo lợi thấp dẫn nhiệt xuống dưới. Các vị cùng dùng có tác dụng thanh thấp độc, khử ứ, các chứng tự trừ.

Bài 2: Tả trọc mạn tiền trà

Bài thuốc:

Ích mẫu thảo 30g, Tỳ giải 20g, Thổ phục linh 30g, Ngưu tất 20g.

Chủ trị:

Chữa viêm tuyến tiền liệt mạn tính hay u tiền liệt tuyến. Chứng thấy tiểu lắt nhắt, tiểu gắt, buốt hoặc miệng niệu đạo còn vương giọt nước tiểu, lưng đau lan xuống hội âm, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch nhu hoặc sác

Công hiệu:

Hành ứ tả trọc lợi niệu.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dương hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Ích mẫu thảo là thuốc cần thiết để chữa bệnh phụ khoa. Ai cũng biết, nhưng sở trường của nó là hành ứ, lợi tiểu. Hiện nay được áp dụng để chữa các bệnh viêm tuyến tiền liệt hay u tiền liệt tuyến có hiệu quả rỏ rệt. Tác dụng chủ yếu là kháng khuẩn tiêu viêm, ức chế đông máu. Tỳ giải có tác dụng tả thấp nhiệt ở dương minh mà củng cố hạ tiêu, thấm lợi thấp nhiệt mà phân biệt thanh trọc. Sách “ Bản thảo thông huyền” nói: “Tỳ giải….., chữa các chứng bạch trọc gây đau dương vật, liệt dương tiểu khó, ác sang. ”

Thổ phục linh tả thấp trọc, thanh nhiệt giải độc; Xuyên ngưu tất hoạt huyết, dẫn thuốc xuống dưới mà khử ứ ra bên ngoài. Các vị cùng dùng, có tác dụng hành ứ thông trệ, tả thấp trọc, giải nhiệt độc. Có hiệu quả rất tốt đối với viêm tiền liệt tuyến và u tiền liệt tuyến.

Bài 3: Hóa ứ mạn tiền trà

Bài thuốc:

Đơn sâm 30g, Xích tiểu đậu 20g, Bạch hoa xà thiệt thảo 20g, Bồ công anh 20g, Vương bất lưu hành 10g, Tam thất 10g.

Chủ trị:

Chữa viêm tuyến tiền liệt mạn tính. Chứng thấy đái lắt nhắt không dứt, miệng niệu đạo còn vương giọt nước tiểu. Vùng hội âm đau như bị dùi đâm lan ra vùng bụng dưới và vùng lưng, chất lưỡi tím, có đốm ứ huyết, mạch sáp.

Công hiệu:

Hành ứ lợi niệu.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Người tỳ thận lưỡng hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Đơn sâm giỏi vào huyết phận, có tác dụng khử ứ sinh tân, thông huyết mạch, hóa ứ trệ, làm giản bên ngoài chu vi huyết quản; Xích tiểu đậu lợi thấp  giải độc tiêu thủng; Bạch hoa xà thiệt thảo, Bồ công anh có tác dụng thanh nhiệt giải độc; Vương bất lưu hành, Tam thất có tác dụng hành ứ thông trệ, xuyên thấu lớp màng bao tiền liệt tuyến. Các vị cùng dùng có công dụng làm thanh nhiệt độc, hóa ứ huyết mà khống chế viêm.

KHỐI U TIỀN LIẾT TUYẾN

Bài 1: Thanh lợi thông lâm trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Xa tiền thảo 20g, Biển súc 10g, Thổ phục linh 30g, Kim tiền thảo 25g, Tam thất 10g, Xuyên ngưu tất10g.

Chủ trị:

Chữa u tiền liệt tuyến thuộc thấp nhiệt hạ chú. Chứng thấy tiểu nhiều lần, nhỏ từng giọt không dứt, dương vật có cảm giác nóng rát đau như dùi đâm. Tiểu vàng hoặc tiểu ra máu, phiền táo không yên, cầu khô kết, lưỡi hồng mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp thông lâm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dương hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Thấp nhiệt uất kết bên trong cơ thể, hạ chú xuống bàng quang, bàng quang khí hóa không lợi thì phát sinh tiểu lắt nhắt; nhiệt thịnh thì dương vật đau như dùi đâm; nhiệt làm tổn thương âm lạc thì thấy tiểu ra máu. Chữa nên thanh nhiệt lợi thấp thông lâm. Trong bài Sinh địa có tác dụng thanh nhiệt lương huyết; Xa tiền thảo, Biển súc, Kim tiền thảo thanh lợi hạ tiêu thấp nhiệt; Thổ phục linh có tác dụng lợi thấp thanh nhiệt, khử ứ tán trọc; Tam thất có tác dụng hoạt huyết hành ứ, tiêu giảm u tiền liệt tuyến; Xuyên ngưu tất đưa các vị thuốc xuống dưới. Các vị cùng dùng có công  dụng thanh nhiệt lợi thấp. Táo bón gia đại hoàng 10g để hành phủ thông tiện; tiểu lắt nhắt không dứt gia Tạo giác thích 15g, Vương bất lưu hành 10g để nhuyễn kiên tán kết thông lâm.

Bài 2: Giáng hỏa thông lâm trà

Bài thuốc:

Sơn thù du 10g, Sinh địa hoàng 20g, Mẫu đơn bì 10g, Trạch tả 15g, Kim tiền thảo 20g, Tri mẫu 10g, Hoàng bá 10g, Tam thất 10g.

Chủ trị:

Chữa u tiền liệt tuyến thể âm hư hỏa vượng. Chứng thấy tiểu ra rỉ rả không dứt, lưng mõi đau, tai ù, lòng bàn tay nóng, má đỏ miệng khát, chất lưỡi đỏ, rêu ít, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Tư âm giáng hỏa.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dương hư không nên chọn dùng bài này. Cử ăn các thức ăn cay, rượu bia các loại.

Lời bình:

Thận âm bất túc, kèm có lưng gối yếu mõi; Âm hư hỏa vượng thì họng khô tâm phiền, tiểu vàng có cảm giác nóng. Chữa nên tư âm giáng hỏa; kim tiền thảo lợi niệu thông lâm; Tri mẫu, Hoàng bá thanh nhiệt kiện âm; Tam thất có tác dụng xuyên thấu lớp màng bao tiền liệt tuyến để hóa ứ nhuyễn kiên, khống chế tăng sinh. Các vị cùng dùng có công dụng thanh mà không phạt, ngụ ý là bổ trong thanh. Làm cho âm được dưỡng mà dương hóa khí, tiểu tiện tự thông.

CHÀM BÌU

Bài 1: Giải độc thanh âm trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Thổ phục linh 30g, Nhân trần 20g, Bồ công anh 20g, Khổ sâm 20g, Mẫu đơn bì 12g, Bạch tiễn bì 12g.

Chủ trị:

Chữa chàm bìu, chứng thấy ngứa vùng bìu dái, vùng da tại chổ ngứa đỏ, chảy nước, về đêm ngứa nhiều hơn, tiểu vàng, miệng đắng, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp chỉ dượng.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống. Xác thuốc nấu lấy nước ngồi ngâm chổ ngứa.

Cấm kỵ:

Người tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này. Cử ăn các thức ăn cay nóng, dầu mỡ, rượu bia, các chất kích thích.

Lời bình:

Do uống quá nhiều các loại rượu bia, ăn các thức ăn cay nóng, nên thấp nhiệt hạ chú tụ lại ở âm nang nên âm nang phát sinh thấp chẩn. Chữa nên thanh lợi thấp nhiệt giải độc. Trong bài Sinh địa hoàng, Mẫu đơn bì có tác dụng lương huyết giải độc; Bồ công anh có tác dụng thanh nhiệt giải độc; Khổ sâm, Bạch tiễn bì táo thấp để liễm thấp dịch; Thổ phục linh, Nhân trần, thấm thấp lợi tiểu, đưa tà nhiệt theo xuống dưới mà giải ra. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt giải độc. Tiện kết gia đại hoàng 10g, để thông tiện tiết nhiệt.

Bài 2: Sơ phong lương âm trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 20g, Dã cúc hoa 10g, Thuyền thoái 10g, Kinh giới 10g, Thổ phục linh 30g, Bồ công anh 20g.

Chủ trị:

Chữa chàm bìu do phong nhiệt chứng thấy vùng bìu dái nổi mẫn đỏ ngứa ngáy không chịu nổi, kèm theo khát nước muốn uống, miệng lưỡi khô ráo, cầu táo, lưỡi đỏ, mạch phù sác.

Công hiệu:

Thanh lương sơ phong chỉ dượng.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều. Bả thuốc sắc lấy nước rửa chổ ngứa.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này. Cữ ăn các thức ăn cay nóng, ngọt béo, rượu bia các chất kích thích.

Lời bình:

Phong tà xâm nhập vào cơ thể thường phát bệnh rất nhanh, phong nhiệt kết lại ở huyết mạch, làm tổn thương âm huyết. Trong bài Kim ngân hoa, Dã cúc hoa, Bồ công anh có tác dụng thanh nhiệt giải độc; Kinh giới, Thuyền thoái có tác dụng sơ phong giải biểu, để thấu phong tà; Thổ phục linh thanh lương tán phong, trừ thấp giải độc. Các vị cùng dùng có công dụng Thanh lương sơ phong.

ÂM NANG CÓ NHỌT

Nang ung là muốn nói đến vùng bìu dái nổi nhọt. 1 bên hoặc 2 bên sưng đỏ nóng đau, vùng da tại chổ láng bóng, nặng trằn, hoặc kèm có phát sốt, sợ lạnh, miệng khô, mạch sác.

Phương hướng chọn dùng lương trà

Nang ung khi mới phát thấy bìu dái sưng trướng đỏ nóng đau thì chọn dùng bài Anh hoa sinh địa trà. Nếu thấy nóng lạnh, vùng bìu dái sưng nóng đỏ đau, vùng da tại chổ căng láng bóng thì nên chọn dùng bài lương giải tiêu ung trà.

Bài 1: Anh hóa sinh địa trà

Bài thuốc:

Bồ công anh 30g, Kim ngân hoa 30g, Sinh địa hoàng 30g,

Chủ trị:

Chữa nang ung thấy bìu dái nổi nhọt sưng trướng đỏ đau, miệng khát, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần. Xác thuốc nấu lấy nước xông rửa và ngâm bìu dái bài này chỉ thích hợp đối với bệnh còn ở thời kỳ đầu nhọt chưa hóa mủ.

Cấm kỵ:

Vị hàn không nên chọn dùng bài này. Cữ ăn các thức ăn cay, nóng, chiên xào.

Lời bình:

Thấp nhiệt uất bên trong, tụ lại ở bìu dái, phát sinh vùng bìu dái nổi nhọt. Chữa nên thanh nhiệt giải độc tán kết. Trong bài Bồ công anh vị đắng hơi ngọt tính hàn. Đắng có thể sơ tiết tà khí, ngọt thì giải độc, hàn có thể thanh nhiệt, nên có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu ung tán kết. Phối hợp với Kim ngân hoa, Sinh địa hoàng thanh nhiệt lương huyết giải độc, càng làm tăng sức thanh nhiệt tiêu ung. Nghiên cứu của dược lý hiện đại nêu rõ Bồ công anh, Kim ngân hoa đều có tác dụng ức khuẩn tiêu viêm khác nhau. Bài này ngoài cách uống bên trong còn có thể sắc lấy nước để xông, rửa, ngâm bìu dái để thúc đẩy hấp thu chứng viêm. Bài này chỉ thích hợp với bệnh bìu dái nổi nhọt mới phát khi nhọt chưa làm mủ.

Bài 2: Lương giải tiêu ung trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Xích thược 15g, Mẫu đơn bì 10g, Liên kiều 15g, Bồ công anh 20g, Bạch chỉ 10g, Tạo giác thích 10g, Nhân trần 20g, Thổ phục linh 30g.

Chủ trị:

Chữa bìu dái nổi nhọt người phát sốt, vùng bìu dái sưng láng bóng nóng đau, miệng khô đắng, tiểu nhiều, lưỡi đỏ, rêu vàng mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh lương giải độc, tán kết tiêu ung.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra 2 lần uống. Bả thuốc nấu lấy nước ngâm rửa bìu dái, chỉ dùng chữa bìu dái nổi nhọt nhưng chưa hóa mủ.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên dùng bài này. Cử ăn các thức ăn cay nóng, các loại rượu bia chất kích thích.

Lời bình:

Thấp nhiệt hạ chú, kết ứ ở bìu dái sinh ra bệnh

NGŨ QUAN KHOA

VIÊM KẾT MẠC CẤP

Bài 1: Sơ phong thanh phế trà

Bài thuốc:

Tang diệp 15g, Cúc hoa 20g, Liên kiều 15g, Thuyền thoái 15g, Hạ khô thảo 15g.

Chủ trị:

Chữa viêm kết mạc cấp tính thuộc thể phong nhiệt. Chứng thấy mắt ngứa đau, chảy nước mắt, kết mạc sung huyết, kèm có đau đầu, phát sốt, nghẹt mũi, chảy nước mũi, ho, miệng khát, chất lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch phù sác.

Công hiệu:

Sơ phong thanh phế.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén uống ấm. Xác thuốc sau khi sắc xong nhắc xuống cho vào cái nồi mở nắp ra nhân lúc còn nóng xông 2 mắt.

Cấm kỵ:

Vị hàn không nên chọn dùng bài này. Cử ăn các thức ăn cay, nóng.

Lời bình:

Bài này phát sinh chủ yếu là do phong nhiệt tà xâm nhập vào, khắc phế kinh làm cho phế khí không tuyên, phong hỏa bốc lên trên gây viêm. Chữa nên thanh phong nhiệt, tả phế hỏa. Trong bài Tang diệp cúc hoa có tác dụng sơ phong thanh nhiệt; Liên kiều thanh nhiệt giải độc; Thuyền thoái sơ phong thanh nhiệt chỉ dượng; Hạ khô thảo thanh nhiệt giải độc minh mục. Các vị cùng dùng có công dụng thanh phế tả hỏa. Viêm phổi nặng gia Thạch cao 15g, Sơn chi tử 10g, để thanh nhiệt tả hỏa; Ngứa nhiều gia Kinh giới 10g, Phong phong 10g, để sơ tán phong tà; Mắt đỏ nhiều gia Sinh địa hoàng 20g để lương huyết thanh nhiệt.

Bài 2: Thanh giải tiêu hồng trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Xích thược 15g, Mẫu đơn bì 15g, Hồng hoa 10g, hạ khô thảo 15g.

Chủ trị:

Chữa viêm kết mạc cấp. Các triệu chứng xuất hiện là khi mới phát trong mắt có cảm giác có dị vật, nóng, kết mạc sung huyết, nhiều ghèn, tiếp theo là kết mạc lở đỏ sưng đau, ghèn nhiều đặc dính. Nặng thì mắt sưng hoặc kèm có sợ lạnh phát sốt, đau đầu, nghệt mũi, lưỡi đỏ rêu vàng mạch phù sác.

Công hiệu:

Sơ phong thanh nhiệt, tả hỏa giải độc.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén uống ấm. bả thuốc sau khi sắc xong cho vào nồi nhân lúc còn nóng xông 2 mắt.

Cấm kỵ:

Vị hàn không nên chọn dùng bài này. Kiêng ăn các thức ăn cay nóng.

Lời bình:

Bài này chữa bệnh viêm kết mạc mắt do phong nhiệt độc bốc lên trên gây ra. Chữa nên sơ phong thanh nhiệt, tả hỏa giải độc. Trong bài Sinh địa hoàng, Mẫu đơn bì có tác dụng thanh nhiệt lưong huyết, tiêu mắt đỏ; Hạ khô thảo sơ phong minh mục, lại thanh nhiệt giải độc; Hồng hoa, Xích thược có tác dụng hoạt huyết thông lạc. Các vị cùng dùng có công dụng tuyên phế khứ phong, thanh nhiệt hóa ứ thông lạc. Nếu kèm có ngoại cảm thì gia kinh giới 12g, Phòng phong 12g để sơ phong tán biểu; Miệng khát cầu bón gia Hoàng cầm 12g, thạch cao 20g để thanh nhiệt tả hỏa; do nhiệt nhập can kinh nên giác mạc lở đỏ sưng đau gia Sài hồ 10g, Long đởm thảo 12g, để sơ can thanh nhiệt. Mắt  nhiều ghèn gia Sơn chi tử 10g, Nhân trần 20g để tả hỏa trừ thấp.

Bài 3: Song diệp trà

Bài thuốc:

Đại thanh diệp 15g, Tang diệp 15g, Mộc tặc 12g, Liên kiều 12g, Bồ công anh 24g.

Chủ trị:

Chữa viêm kết mạc cấp. Xuất hiện các triệu chứng như kết mạc sung huyết, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, mắt nhiều ghèn, 2 mắt sưng đỏ. Hoặc kèm có ngoại cảm.

Công hiệu:

Sơ phong thanh nhiệt, kháng virus.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén uống ấm; Nước nhì nước nhì lược qua khăn lọc lấy nước rửa mắt.

Cấm kỵ:

Vị hàn không nên chọn dùng bài này. Kiêng ăn các thức ăn cay nóng.

Lời bình:

Bài này dùng chữa các chứng do phong nhiệt phạm vào phế kinh và can kinh sinh ra mắt đỏ. Chữa nên thanh tả phong nhiệt ở phế kinh và can kinh. Trong bài Đại thanh diệp có tác dụng thanh nhiệt giải độc, kháng virus. Nghiên cứu dược lý của y học hiện đại nêu rõ Đại thanh diệp có tác dụng kháng virus và tiêu viêm. Tang diệp sơ phong tuyên phế thanh nhiệt; Mộc tặc thanh can minh mục; Liên kiều, Bồ công anh có tác dụng thanh nhiệt giải độc. Các vị cùng dùng vừa thanh can phế, làm tan phong nhiệt ở can phế, giải nhiệt độc mà mắt đỏ tự khôi phục. Nếu đau đầu , nghẹt mũi gia Kiết cánh 12g, Kinh giới 12g để sơ phong thấu tà; Cầu bón gia Đại hoàng 10g thông phủ tiết nhiệt; Kết mạc ra máu nhiều gia Xích thược 12g, Mẫu đơn bì 12g để lương huyết chỉ huyết.

MỤT LẸO

Bài 1: Sơ phong tiêu mạch trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 20g, Liên kiều 12g, Thuyền thoái 12g, Hạ khô thảo 15g.

Chủ trị:

Chữa mụt lẹo thuộc phong nhiệt. Chứng thấy mí mắt sưng đỏ, hình dáng như hạt lúa mạch, có cảm giác ngứa đau.

Công hiệu:

Sơ phong thanh nhiệt.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều sau bữa ăn; nước 3 sắc lấy nước lược bỏ bả dùng gạc tiệt trùng nhúng nước thuốc đắp vào chổ đau.

Cấm kỵ:

Kiêng ăn các thức ăn cay nóng kích thích.

Lời bình:

Phong nhiệt bốc lên trên, nhiệt kết ở mí mắt, phát sinh thành bệnh mụt lẹo. Bài này dùng chữa mụt lẹo mới phát bệnh còn nhẹ. Chữa nên sơ phong thanh nhiệt, kiêm tán kết. Trong bài Kim ngân hoa có tác dụng thanh nhiệt sơ phong thấu biểu; Thuyền thoái có tác dụng sơ phong tán biểu; Liên kiều thanh nhiệt giải độc; Hạ khô thảo thanh can nhiệt, giải sang độc. Các vị cùng dùng có công dụng sơ phong thanh nhiệt, giải độc tán tà. Bài này là bài thuốc có công dụng sơ phong giải biểu nhẹ, không nên sắc lâu. Mụt lẹo mới phát chưa hóa mủ có thể lấy xác thuốc cho nước vào nấu lấy nước đắp nóng vào chổ đau. Có thể làm cho bệnh mụt lẹo tiêu tan, phòng ngừa bệnh tình ác hóa.

Bài 2: Thanh nhiệt tiêu mạch trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 20g, Xích thược 10g, Bồ công anh 20g, Hạ khô thảo 15g, Triết bối mẫu 12g, Liên kiều 15g.

Chủ trị:

Chữa mụt lẹo do nhiệt độc xông lên bên trên. Xuất hiện các triệu chứng mí mắt sưng đỏ, kết cứng đỏ hoặc đỏ tím, đau nhức hoặc ấn vào đau hoặc hóa mủ hoặc mủ tự vỡ, triệu chứng toàn thân thấy sợ lạnh phát sốt, tiểu vàng, cầu bón, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch phù sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, tả hỏa thông phủ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng, chiều sau bửa ăn.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này. Cử ăn các thức ăn cay nóng, kích thích.

Lời bình:

Bệnh này phát sinh do virus, kết tụ ở mí mắt, sưng đỏ như hạt lúa mạch. Chữa nên thanh nhiệt giải độc, thông phủ tả hỏa. Trong bài Xích thược, Sinh địa hoàng có tác dụng lương huyết hoạt huyết; Liên kiều có tác dụng thanh nhiệt, thông tả hỏa ở tam tiêu; Bồ công anh, Hạ khô thảo, Triết bối mẫu thanh nhiệt giải độc, nhuyễn kiên tán kết; Các vị hợp dùng có công dụng thanh nhiệt tả hỏa, giải độc, thông phủ tiết nhiệt. Nếu mủ đã hình thành thì gia Bạch chỉ 12g, Tạo giác thích 12g để nhuyễn kiên hóa mủ.

 

VIÊM TAI GIỮA HÓA MỦ

Bài 1: Sơ phong ninh nhĩ trà

Bài thuốc:

Tang diệp 10g, Dã cúc hoa 20g, Liên kiều 15g, Bồ công anh 25g.

Chủ trị:

Chữa viêm tai giữa hóa mủ cấp thời kỳ đầu thấy trong lỗ tai có cảm giác trướng hơi đau, kèm theo tai ù hoặc thính lực giảm. Toàn thân không thoải mái, sợc gió, phát sốt, đau đầu, nghẹt mũi, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Sơ phong khử tà, thanh nhiệt giải độc.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén. Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều sau bữa ăn.

Cấm kỵ:

Không ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia các loại, tôm cua hải sản và các chất kích thích.

Lời bình:

Bài này chữa các chứng viêm tai giữa do phong nhiệt gây ra. Chữa nên sơ phong thanh nhiệt giải độc. Trong bài Tang diệp sơ phong tán tà mà thanh nhiệt; Dã cúc hoa, Liên kiều, Bồ công anh thanh nhiệt giải độc. Các vị cùng dùng có công dụng sơ phong khử tà, thanh nhiệt giải độc. Nếu phát sốt gia Thanh thiên quỳ 10g, Kim ngân hoa 15g để thanh nhiệt tả hỏa thoái nhiệt; Nghẹt mũi hoặc tai ù gia Lộ lộ thông 12g, để thông khiếu; cầu phân khô kết gia Đại hoàng 10g để thông phủ tiết nhiệt.

Bài 2: Kim ngư bài nùng trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 20g, Ngư tinh thảo 20g, Thổ phục linh 20g, Sinh bắc kỳ 10g, Bạch chỉ 10g, Ý dĩ nhân 30g.

Chủ trị:

Chữa viêm tai giữa cấp hóa mủ thấy trong lổ tai đột nhiên đau chảy mủ màu vàng đặc lượng nhiều, mùi hôi, sau khi mủ chảy ra hết thì cơn đau giảm, thính lực giảm sút, kèm có phát sốt, đau đầu, miệng đắng họng khô, người bứt rứt, tiểu đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng dày hoặc vàng, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp, thông khiếu bài nùng.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống sau bửa ăn.

Cấm kỵ:

Kiêng ăn các thức ăn chiên xào, cay nóng, các loại rượu và các chất kích thích.

Lời bình:

Bài này chữa bệnh do thấp nhiệt uất kết, men theo kinh mạch mà lên lổ tai, thấp và nhiệt tương bác hóa mủ mà sinh ra bệnh. Chữa nên thanh nhiệt giải độc, bài nùng. Trong bài Kim ngân hoa, Ngư tinh thảo có tác dụng thanh nhiệt giải độc; Thổ phục linh thanh lợi thấp nhiệt mà hóa trọc; Sinh bắc kỳ, Ý dĩ nhân, Bạch chỉ có tác dụng thanh nhiệt bài nùng khử độc. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt giải độc, bài nùng thông khiếu. Nếu bứt rứt khát nước nhiều gia Long đởm thảo 12g, Sơn chi tử 10g, để thanh nhiệt trừ phiền; Trong tai trướng đau có mủ gia Tạo giác thích 12g, để gom mủ bài nùng.

LỞ XOANG MIỆNG

Bài 1: Thanh tâm dũ dượng trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 20g, Đạm trúc diệp 10g, Đăng tâm hoa 10 cọng, Xa tiền thảo 20g.

Công hiệu:

Thanh tâm lương huyết, tả hỏa chỉ thống.

Chủ trị:

Chữa lở xoang miệng thuộc tâm hỏa thượng viêm. Chứng thấy chổ lở phát ở vùng lưỡi thường là chót lưỡi. mô cơ lở loét, vết lở lớn nhỏ không đều, thậm chí gom thành mảng, chung quanh sưng đỏ rõ rệt, nóng rát, khi ăn uống hoặc nói chuyện thì đau tăng, miệng khát, tâm phiền, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống sau bữa ăn.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dương hư không nên chọn dùng bài này, nên ăn cử ăn các thức ăn có vị cay nồng.

Lời bình:

“sách Thạch thất bí lục” nói rằng: “Miệng lưỡi lở là do tâm hỏa uất nhiệt”. Tâm khai khiếu ở lưỡi, tâm hỏa vượng, hỏa nhiệt theo kinh mà bốc lên, hun đốt miệng lưỡi, nhiệt làm niêm mạc và cơ bị lở. Cho nên khi chữa nên dùng phép thanh tả tâm hỏa, để dẩn nhiệt hạ hành. Trong bài Sinh địa hoàng, Mẫu đơn bì có tác dụng thanh nhiệt lương huyết tả hỏa; Đăng tâm hoa thanh tâm tiết nhiệt; Đạm trúc diệp, Xa tiền thảo đưa nhiệt xuống dưới, khiến nhiệt tà theo ra ngoài. Các vị cùng dùng có công dụng giáng tâm hỏa, làm cho nhiệt tà ra theo đường tiểu tiện, miệng lưỡi lở tự khỏi.

NHỨC RĂNG

Bài 1: Sơ phong chỉ thống trà

Bài thuốc:

Kinh giới 10g, Liên kiều 12g, Thuyền thoái 12g, Mẫu đơn bì 12g, Cương tàm 10g, Thanh bì 6g.

Chủ trị:

Chữa đau răng do phong hỏa thấy răng đau từng cơn, gặp gió thì đau tăng, gặp lạnh thì cơn đau giảm, gặp nóng thì đau tăng, chân răng sưng đỏ hoặc thấy nóng lạnh, miệng khát muốn uống, chất lưỡi đỏ, rêu trắng mỏng mà khô, mạch phù sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt sơ phong, thanh tiêu chỉ thống.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén nước sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Nên giữ cho miệng luôn sạch sẽ cử ăn các thức ăn chua, cay, nóng.

Lời bình:

Bài này chữa nhức răng do phong nhiệt bốc, làm cho khí huyết lưu trệ, mạch lạc uất bế không thông. Chữa nên sơ phong tán tà, Thanh nhiệt giải độc làm chủ. Trong bài Kinh giới, Thuyền thoái có tác dụng sơ phong tán tà; Liên kiều thanh nhiệt tả hỏa giải độc; Mẫu đơn bì thanh nhiệt lương huyết; Cương tàm sơ phong thông lạc, phối với Thanh bì để hành trệ chỉ thống. Các vị cùng dùng có công dụng làm tán phong tà, giải nhiệt độc mà nhức răng tự khỏi. Nếu thấy tâm hỏa vượng gia Sơn chi tứ 10g, Mạch môn 12g; Can hỏa vượng gia Long đởm thảo 10g, Hoàng cầm 10g; Tướng hỏa vượng gia Tri mẫu 10g, Hoàng bá 10g; Cầu bón gia Đại hoàng 10g, Chỉ xác 12g. Ngoài ra có thể dùng Kinh giới 15g, Bạc hà 10g, Thăng ma 10g, Tê tân 6g, sắc lấy nước súc miệng, để sơ phong thanh nhiệt chỉ thống, đạt được hiệu quả trong ngoài cùng trị.

Bài 2: Ngọc nữ tiêu thống trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 20g, Thạch cao 20g, Tri mẫu 10g, Xuyên ngưu tất 10g, Mạch môn 12g.

Chủ trị:

Chữa nhức răng do vị hỏa bốc. Chứng thấy răng đau dữ dội, chân răng sưng đau, thậm chí ra máu mủ, sưng lan tới gò má, đau đầu, khát muốn uống, miệng hôi, đại tiện bí kết, rêu lưỡi vàng dày, mạch hồng sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt tả hỏa, tiêu thủng chỉ thống.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa nhức răng do vị hỏa bốc. Chữa nên thanh vị tả hỏa, tiêu thủng chỉ thống. Trong bài sinh địa hoàng có tác dụng thanh nhiệt lương huyết; Thạch cao thanh tả vị hỏa; Tri mẫu vừa tư âm vừa tả hỏa; Xuyên ngưu tất dẫn hỏa xuống dưới; Mạch môn dưỡng âm sinh tân. Các vị cùng dùng có công dụng Thanh vị nhiệt, giáng vị hỏa. khi hỏa không xông bốc lên thì sưng đau tự trừ. Ngoài thuốc uống trong ra cũng có thể dùng Bạch chỉ, Ngô thù du đều 15g sắc lấy nước ngậm để tiêu viêm chỉ thống định thủng đạt được hiệu quả trong ngoài cùng chữa.

Bài 3: Giáng hỏa chỉ thống trà

Bài thuốc:

Sơn châu du 12g, Mẫu đơn bì 15g, Đơn sâm 20g, Cốt toái bổ 15g, Kim ngân hoa 12g.

Chủ trị:

Nhức răng do hư hỏa bốc. Chứng thấy răng ê buốt hoặc hơi đau, chân răng đỏ nhạt hơi sưng, lâu thì nướu teo, răng lung lay, cắn vật không có sức, chiều đau tăng, hoặc thấy răng bị mẻ, lưng gối mõi đau, chóng mặt hoa mắt, miệng họng khô ráo, lưỡi đỏ ít rêu mạch tế sác.

Công hiệu:

Ích thận cố xỉ, tư âm giáng hỏa.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Cử rượu bia thuốc lá, các chất cay nóng kích thích.

Lời bình:

Bài này chữa chứng nhức răng do hư hỏa bốc. Chữa nên tư âm cố thận, giáng hỏa chỉ thống. Trong bài Sơn thù du ích âm cố thận; Mẫu đơn bì tả hỏa; Đơn sâm khử ứ sinh tân, tiêu thủng định thống; Cốt toái bổ ích thận khí, giáng hỏa, cường cân cốt, chữa răng lung lay, là vị thuốc chính để chữa nhức răng; Kim ngân hoa thanh khí lương huyết. Các vị cùng dùng có công dụng tư âm giáng hỏa ích âm chỉ thống.

Bài 4: Hải phong chỉ khủ trà

Bài thuốc:

Hải đồng bì 15g, Lộ phong phòng 10g, Hậu phác 10g, Trạch tả 15g.

Chủ trị:

Chữa đau răng, chân răng sâu có lổ, nhẹ thì có cảm giác ê buốt, nặng thì khi gặp lạnh, nóng, chua, ngọt kích thích thì đau tăng, lúc phát lúc ngưng, nặng thì đau không chịu nổi, đêm ngủ không yên.

Công hiệu:

Thanh vị tả hỏa, khu thấp chỉ thống.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Không nên ăn nhiều đồ ngọt, giữ cho miệng sạch sẽ. Tỳ vị hư hàn cẩn thận khi dùng bài này. Tàng ong dùng nhiều sẽ có độc, không nên dùng lâu.

Lời bình:

Nướu răng phát sinh bệnh là có liên quan tới thói quen ăn uống không đúng và thấp nhiệt uất kết. “sách Cảnh nhạc toàn thư” nói rằng: “trùng bệnh phát sinh là do từ răng chứ không phải từ kinh mạch, cũng do các chất ngọt béo tích chứa ở răng hóa sinh sâu răng, đục khoét làm cho răng sâu có lổ, răng rụng mà sinh đau”. Do đó chữa nên thanh thấp nhiệt, sát trùng chỉ thống làm chủ. Trong bài lấy Hải đồng bì, Lộ phong bì khu phong thông lạc, sát trùng chỉ thống; Hậu phát, Trạch tả hành khí giáng trọc, mà Hậu phát là vị thuốc cần thiết để chữa sâu răng. Các vị cùng dùng có công dụng sát trùng chỉ thống, lại thanh tả thấp trọc.

CHẢY MÁU CHÂN RĂNG

Bài 1: Thạch quy trà

Bài thuốc:

Thạch hộc 10g, Quy bản 20g, Sinh địa hoàng 20g, Mẫu đơn bì 12g, Bạch mao căn 20g.

Chủ trị:

Chữa chảy máu chân răng thấy xuất hiện chân răng chảy máu, màu máu đỏ tươi, mặt môi đỏ, người bực bội không yên, sốt về chiều, ăn ít người lừ đừ, cầu khô kết, miệng khát muốn uống, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế huyền sác.

Công hiệu:

Tư âm tiềm dương, lương huyết chỉ huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa chân răng chảy máu do hư hỏa bốc. Phép chữa nên dưỡng âm tăng dịch, tiềm dương giáng hỏa chỉ huyết. Trong bài Sinh địa hoàng, Quy bản có tác dụng tư âm bổ can thận, dục âm tiềm dương; Thạch hộc dưỡng vị sinh tân; Mẫu đơn bì, Bạch mao căn lương huyết chỉ huyết. Các vị cùng dùng có công dụng dưỡng âm tiềm dưỡng âm tiềm dương, lương huyết chỉ huyết.

Bài 2: Tiên hạc trà

Bài thuốc:

Tiên hạc trà 15g, Tri mẫu 10g, Huyền sâm 20g, Bạch mao căn 20g, Xuyên ngưu tất 10g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa chân răng chảy máu. Chứng thấy chân răng sưng đau hoặc kèm có chảy máu, miệng hôi, khô muốn uống, cầu bón, tiểu vàng, lưỡi hồng, rêu vàng mạch sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt tả hỏa, lương huyết chỉ huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn1/2 chén chia làm 2 uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên chọn bài này. Cử ăn cay nóng, rượu bia các loại, các chất kích thích.

Lời bình:

Vị hỏa bốc nóng bên trên, bức huyết vọng hành mà phát sinh chảy máu chân răng. Chữa nên thanh vị tả hỏa, lương huyết chỉ huyết. Trong bài Tiên hạc thảo có tác dụng lương huyết chỉ huyết; Tri mẫu, Huyền sâm có tác dụng thanh vị tả hỏa; Bạch mao căn lương huyết chỉ huyết; Xuyên ngưu tất dẫn hỏa quy nguyên; Cam thảo giải độc hoãn cấp, điều hòa chư dược. Các vị cùng dùng có công dụng thanh vị nhiệt, lương huyết nhiệt mà chân răng chảy máu tự cầm.

VIÊM HỌNG CẤP VÀ MẠN TÍNH

Bài 1: Giải độc thanh yết trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 20g, Liên kiều 15g, Lô căn 20g, Huyền sâm 20g, Kiết cánh 15g, Cam thảo 10g.

Chủ trị:

Chữa viêm họng cấp. Chứng thấy họng có cảm giác nóng đau, ngứa, gây ho hoặc kèm có sợ lạnh phát sốt, đau đầu, miệng khát, hôi, cầu bón, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, lợi yết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này. Không ăn các thức ăn cay nóng kích thích.

Lời bình:

Bài này dùng chữa viêm họng do phong nhiệt gây ra. Chữa nên sơ phong thanh nhiệt, giải độc lợi yết. Trong bài Kim ngân hoa, Liên kiều có tác dụng sơ phong thanh nhiệt giải độc; Lô căn, Kiết cánh có tác dụng lợi yết giải độc tán kết; Huyền sâm dưỡng âm lợi yết; Cam thảo hoãn cấp lợi yết giải độc. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt giải độc, lợi yết tán kết.

Bài 2: Dưỡng âm lợi yết trà

Bài thuốc:

Huyền sâm 20g, Sinh địa hoàng 20g, Mạch môn 15g, Nam bắc Sa sâm đều 15g, Kiết cánh 15g, Cam thảo 10g.

Chủ trị:

Chữa viêm họng mạn tính. Chứng thấy họng khô không thoải mái, đau lâm râm, có cảm giác như có vật lạ trong họng, ngứa cổ ho khan, hay tằng hắng, vách họng có một ít hạt nhỏ. Hoặc kèm có sốt về chiều, lòng bàn tay chân nóng, đêm ngủ hay mơ mộng, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.

Công hiệu:

Tư dưỡng phế vị, Thanh nhiệt lợi yết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Cử ăn các thức ăn cay nóng, các loại rượu bia chất kích thích.

Lời bình:

Bài này dùng chữa viêm họng do tân dịch ở phế vị bị tổn thương, hư hỏa xông bốc lên hầu họng mà gây ra. Chữa nên tư âm dưỡng phế vị để thanh lợi hầu họng. Trong bài dùng Nam bắc Sa sâm, Mạch môn có tác dụng tư âm sinh tân; Sinh địa hoàng, Huyền sâm có tác dụng thanh nhiệt lương huyết giáng hỏa; Kiết cánh, Cam thảo lợi yết hầu. Các vị cùng dùng có công dụng dưỡng âm sinh tân dịch ở phế vị. Khi âm tân khôi phục thì hư hỏa giáng, họng đau tự khỏi.

Bài 3: Đại hải hồ điệp trà

Bài thuốc:

Bạn đại hải 2 trái, Mộc hồ điệp 6g, Kiết cánh 10g, Cam thảo 6g, hàm cam quýt(camquýt muối) vừa đủ.

Chủ trị:

Chữa viêm họng cấp thời kỳ khôi phục, viêm họng mạn tính. Chứng thấy họng khô gắt, ngứa, có lúc phát ra tắt tiếng 清嗓声, hoặc ho, vách họng có một ít hạt nhỏ, nặng thì khan tiếng.

Công hiệu:

Thanh âm lợi yết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang dùng nước rửa sạch thuốc thêm cam quýt muối (hay tắc muối) vào ngâm trong nước sôi 20 phút, thay trà uống từ từ.

Cấm kỵ:

Không ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia và các chất kích thích.

Lời bình:

Viêm yết hầu cấp tái phát, dây dưa không dứt, hoặc la hét quá nhiều hay hít phải bụi khói công nghiệp, hóa chất đều là nguyên nhân gây ra viêm họng mạn. Chữa nên thanh tang lợi yết. Trong bài Ban đại hải ngọt nhạt tính mát, thanh phế lợi yết, khai âm là vị thuốc chính để chữa bệnh hầu họng. sách “Bản thảo chính nghĩa” cho rằng Ban đại hải có thể “khai âm chữa tắt tiếng, sảng khái quát đàm.” Mộc hồ điệp tính mát, thanh phế lợi yết; Kiết cánh tuyên phế, thanh tiết thượng tiêu, đưa các thuốc lên trên, khởi đề hồ yết cái chi hiệu; Cam thảo hoãn cấp hòa trung mà điều chư dược. Duy chỉ có hàm cam quýt(tắc muối) là sản vật ở vùng Lỉnh nam, có tác dụng lợi yết hóa đàm, cũng có thể dùng cửu chế Trần bì, Cửu chế Ninh mông để thay thế. Các vị cùng dùng có công dụng thanh phế nhiệt, lợi hầu họng, mà viêm họng tự khỏi.

KHAN TIẾNG VÀ MẤT TIẾNG

Bài 1: Khai thanh trà

Bài thuốc:

Kiết cánh 15g, Lô căn 20g, Thuyền thoái 10g, Tô diệp 10g, Cam thảo 10g,

Chủ trị:

Khan tiếng hay mất tiếng. Chứng thấy hầu họng không khoan khoái, ngứa cổ gây ho, tiếng khàn nặng thì mất tiếng, họng thì có cảm giác nóng rát, lưỡi đỏ, mạch phù sác.

Công hiệu:

Tuyên phế thanh nhiệt, lợi yết khai thanh.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 5 chén nước sắc còn 2 chén, uống dần thay nước trà.

Cấm kỵ:

Không ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia, thuốc lá và các chất kích thích khác.

Lời bình:

Phế không thanh thì tiếng không trong. Phế chủ tuyên phát, phế khí mất chức năng tuyên giáng thì tiếng nói khàn. Trong bài dùng thuyền thoái, Tô diệp để tuyên thông phế khí, khai âm phục thanh; Kiết cánh, Lô căn có tác dụng thanh lợi yết hầu; Cam thảo lợi yết giải độc mà hòa chư dược. Các vị cùng dùng có công dụng tuyên phế khí, thanh phế nhiệt, phế âm khôi phục thì tiếng nói cũng khôi phục, âm thanh tự dâng lên.

Bài 2: Hoàng tử thanh âm trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 10g, Thục địa hoàng 10g, Sinh kha tử 10g, Ổi kha tử 10g, Sinh kiết cánh 10g, Sao kiết cánh 10g, Nam sa sâm 15g, Bắc sa sâm 15g, Sinh cam thảo 6g, Chích cam thảo 6g.

Chủ trị:

Khan tiếng, mất tiếng. chứng thấy tiếng nói khàn, lâu ngày không khỏi, họng khô, đau nhức, trong họng như có vật gì lạ, tiếng ho không sảng khoái, người bứt rứt ít ngủ, cầu bón.

Công hiệu:

Tư âm ích khí, thông lạc khai âm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 5 chén nước sắc còn 2 chén uống thay nước trà.

Cấm kỵ:

Không ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia thuốc lá và các chất kích thích khác.

Lời bình:

Bài này dùng chữa khan tiếng do phế thận khí âm bất túc, hư nhiệt nhiễu khiếu gây ra mất tiếng. Trong bài Sinh địa hoàng và Thục địa hoàng cùng dùng vừa bổ thận tư thận lại lương huyết tả hỏa; Sinh kha tử và ổi kha tử cùng dùng cùng có tác dụng thanh phế ôn thận; Sinh cam thảo và Chích cam thảo cùng dùng, hàn ôn tương hợp mà thanh nhiệt ích khí; Sinh cát cánh và sao cát cánh cùng dùng, sinh cát cánh dùng để dẫn thuốc đi lên tới phế họng, Sao cát cánh có tác dụng bổ khí tăng âm; Bắc sa sâm và Nam sa sâm cùng dùng thì có công dụng tăng gia gấp  bội ích âm sinh tân. Các vị cùng dùng có thể bồi thận căn mà khai thanh, đạt phế môn mà phát âm.

Bài 3: Đại hải mạch sa thanh âm trà

Bài thuốc:

Bạn đại hải 10g, Mạch môn 12g, Sa sâm 20g, Kiết cánh 12g, Xuyên bối mẫu 10g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa khan tiếng, mất tiếng thuộc hư nhiệt. chứng thấy khan tiếng nặng thì mất tiếng, họng đau, có cảm giác bị ách tắt, họng đỏ hoặc sưng đau, ho đàm dính, tức ngực, miệng họng khô ráo.

Công hiệu:

Thanh nhiệt hóa đàm, tuyên phế thanh âm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 5 chén nước sắc còn 2 chén uống thay nước trà.

Cấm kỵ:

Không ăn các thức ăn cay nóng, chiên xào, rượu bia thuốc lá và các chất kích thích khác.

Lời bình:

Táo tà phạm phế, luyện tân dịch thành đàm, đàm nhiệt giao kết, tụ ở hầu họng cho nên thấy khan tiếng mất tiếng. Chữa nên thanh nhiệt tuyên phế, hóa đàm thanh âm. Trong bài Bạn đại hải lợi yết khai thanh; Sa sâm, Mạch môn thanh táo cứu phế; Kiết cánh vừa lợi yết vừa tuyên phế; Xuyên bối mẫu thanh phế hóa đàm; Cam thảo hoãn cấp lợi yết hòa chư dược. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt tả phế mà không làm tổn thương âm dịch, tuyên phế hóa đàm lại khai thanh, làm cho đàm nhiệt được trừ mà tiếng nói khôi phục.

VIÊM AMIDAN CẤP

Bài 1: Cứu hầu trà

Bài thuốc:

Huyền sâm 30g, Mạch môn 15g, Thiên hoa phấn 12g, Sơn đậu căn 10g, Xạ can 10g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa viêm amidan cấp thuộc thể âm hư hỏa vượng. Chứng thấy hầu họng đau, amidan sưng đau, nặng thì thấy trên amidan có điểm mủ hoặc màng giả, khi nuốt có cảm giác đau, nặng thì ảnh hưởng tới ăn, người không sợ lạnh, phát sốt đau đầu, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng khô khát, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch tế sác.

Công hiệu:

Tư âm giáng hỏa, tiêu thủng chỉ thống.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 5 chén nước sắc còn 2 chén, uống dần thay nước trà

Cấm kỵ:

Viêm amidan cấp có biểu chứng(cảm) thì không dùng bài này. Kiêng không ăn các thức ăn cay nóng, chiên xào, tôm cua, thịt bò, thịt chó, rượu bia các loại và các chất kích thích.

Lời bình:

Trong bài huyền sâm vừa thanh bên trên lại tả bên dưới, tả hỏa tâm, thận; Thiên hoa phấn, Mạch môn trợ huyền sâm để tư âm tả hòa; Sơn đậu căn, Xạ can thanh nhiệt tán kết, hóa đàm tiêu thủng; Cam thảo tả hỏa giải độc điều hòa chư dược. Các vị cùng dùng có công dụng tả hỏa tư âm, tiêu thủng chỉ thống.

Bài 2: Thanh yết giải độc trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Huyền sâm 20g, Kim ngân hoa 15g, Kiết cánh 15g, Triết bối mẫu 15g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa viêm amidan cấp. Chứng thấy miệng họng khô khát, có cảm giác nóng, hoạng đau, nuốt không xuống, amidan sưng đỏ, hóa mủ, phát sốt, ho, lưỡi đỏ, rêu hơi vàng, mạch phù sác.

Công hiệu:

Dưỡng âm thanh nhiệt, tả hỏa giải độc, tiêu thủng chỉ thống.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 5 chén nước sắc còn 2 chén uống từ từ.

Cấm kỵ:

Không ăn các thức ăn cay nóng, chiên xào, tôm, cua, thịt trâu bò, thịt chó, thuốc lá, rượu bia các loại và các chất kích thích khác.

Lời bình:

Trong bài Sinh địa hoàng, Huyền sâm dưỡng âm thanh nhiệt tả hỏa; Kim ngân hoa thanh nhiệt, lương huyết giải độc; Kiết cánh tuyên phế lợi yết; Triết bối mẫu có tác dụng tán kết tiêu thủng chỉ thống, đưa thuốc đến thẳng chổ bệnh; Cam thảo chua ngọt hóa âm, hoãn cấp chỉ thống. Các vị cùng dùng có công dụng dưỡng âm thanh nhiệt tả hỏa giải độc.

Bài 3: Tam căn trà

Bài thuốc:

Bản lam căn 30g, Sơn đậu căn 20g, Lô căn 20g, Thổ ngưu tất 15g, Thạch cao 20g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa viêm amidan hóa mủ, chứng thấy họng đau dữ dội, nặng thì nuốt xuống khó khăn, amidan sưng đỏ, có sắc vàng như mủ hay có màng giả, kèm theo là phát sốt, mặt đỏ, miệng khát muốn uống, ho đàm vàng, miệng hôi, cầu bón, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng dày, mạch hồng đại mà sác.

Công hiệu:

Tả nhiệt giải độc, lợi yết tiêu thủng.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén, uống dần sau bữa ăn; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén uống từ từ.

Cấm kỵ:

Cử ăn các thức ăn cay nóng, chiên xào, tôm, cua, thịt bò, thịt chó, rượu bia thuốc lá, và các chất kích thích khác.

Lời bình:

Phong nhiệt phạm bên trên, làm cho phế vị uất nhiệt, bốc lên yết hầu mà gây bệnh. Chữa nên thanh nhiệt giải độc, lợi yết tiêu thủng. Trong bài Bản lam căn, Sơn đậu căn có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa, lợi yết giải độc; Lô căn tiết nhiệt tán kết, lợi yết hầu; Thổ ngưu tất, giải độc lợi yết, khữ hủ bài nùng; Cam thảo giải độc lợi yết mà hòa chư dược. Các vị cùng dùng làm thanh nhiệt ở phế vị, tiêu thủng chỉ thống, hóa đàm nhiệt uất kết, nùng hủ tự tiêu. Mủ nhiều gia Tạo giác thích10g, Ý dĩ nhân 30g để tán kết bài nùng; Ho đàm nhiều gia Thiên trúc hoàng 10g, Ngư tinh thảo 20g để hóa đàm thanh nhiệt; Cầu bón gia Đại hoàng 10g, để thông phủ tiết nhiệt; Phát nhiệt gia Thủy ngưu giác 10g, Thanh thiên quỳ 12g để thanh giải thoái nhiệt. Bệnh này ngoài đau tại chổ ra còn có các triệu chứng toàn thân rõ rệt, nên lấy nước đầu uống để trực tiếp hạ nhiệt, nước nhì uống từ từ, ý của tác giả là làm cho thuốc ngấm trực tiếp vào chổ bệnh, mới thu được kết quả tốt.

CHẢY MÁU CAM

Bài 1: Tiên đơn trà

Bài thuốc:

Tiên hạc thảo 12g, Mẫu đơn bì 12g, Hoàng cầm 10g, Bạch thược 15g, Bạch mao căn 15g, Kiết cánh 12g.

Chủ trị:

Chữa chảy máu mũi thuộc phế hỏa thượng nghịch. Chứng thấy ho, đàm vàng, niêm  mạc mũi sung huyết, nặng thì lổ mũi chảy máu, rêu vàng, mạch phù sác.

Công hiệu:

Thanh phế nhiệt, chỉ tỵ huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống trong ngày.

Cấm kỵ:

Không ăn các thức ăn cay nóng.

Lời bình:

Bài này chữa chãy máu mũi do phế kinh nhiệt thịnh, bức huyết vọng hành. Chữa nên Thanh phế nhiệt, chỉ tỵ xuất huyết. Trong bài Mẫu đơn bì giỏi thanh huyết nhiệt, hư nhiệt, thực nhiệt cũng tốt, lại có thể hoạt huyết. Phối với Bạch thược vừa có thể hành huyết, liễm mà không trệ, lương mà không tán, dẫn huyêt tuần kinh, chữa vào gốc của chảy máu mũi; Hoàng cầm giỏi thanh phế nhiệt mà chỉ huyết; Bạch mao căn chuyên chữa chảy máu mũi do phế nhiệt bức huyết vọng hành, Phối với Tiên hạc thảo, công dụng càng mạnh; Kiết cánh tuyên phế chỉ khái. Các vị cùng dùng có công dụng thanh phế nhiệt, giáng hỏa, máu theo kinh ra ngoài tự cầm.

Bài 2: Thanh can chỉ nục trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Mẫu đơn bì 15g, Bạch mao căn 10g, Xuyên luyện tử 10g, Xích thược 15g, Bạch thược 15g.

Chủ trị:

Chữa chảy máu cam thuộc can hỏa thượng nghịch. Chứng thấy bệnh phát nhanh, chảy máu nhiều, sắc bầm tím, kèm theo người bứt rứt hay nổi giận, miệng đắng họng khô, sườn đầy đau, cầu bón tiểu đỏ, lưỡi đỏ, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh can tả hỏa, lương huyết chỉ huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống ságn và chiều.

Cấm kỵ:

Chảy máu mũi do tỳ không nhiếp huyết không dùng bài này. Không ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia, thuốc lá và các chất kích thích khác.

Lời bình:

Giận thì làm ảnh hưởng tới can, can uất hóa hỏa, hỏa theo khí mà chạy tán loạn, bức huyết vọng hành mà gây ra chảy máu cam. Trong bài Sinh địa hoàng, Xích thược có tác dụng thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết; Xuyên luyện tử, Mẫu đơn bì có tác dụng thanh can nhiệt, tiết can khí; Bạch mao căn lương huyết chỉ huyết; Bạch thược dưỡng âm nhu can. Các vị cùng dùng có công dụng làm cho can hỏa được thanh mà hỏa tự diệt, huyết nhiệt được lương mà chảy máu cam tự cầm. Nếu chảy máu cam nhiều gia Bột Điền thất 3g để lương huyết chỉ huyết; cầu bón gia Đại hoàng 10g để tả hạ thông tiện tiết nhiệt; Tiểu vàng sậm gia Xa tiền thảo 12g, Đạm trúc diệp 10g để lợi tiểu thanh nhiệt.

VIÊM HANG MŨI

Bài 1: Thương tang trà

Bài thuốc:

Thương nhĩ tử 12g, Tang diệp 12g, Lộ lộ thông 10g, Bạch chỉ 10g, Hoàng cầm 10g, Kiết cánh 15g.

Chủ trị:

Chữa viêm hang mũi thuộc phế nhiệt làm tổn thương âm dịch. Thấy mũi chảy nước đục nặng thì ra cả máu mủ, đầu trướng đau, miệng họng khô ráo, ho, lưỡi đỏ, mạch sác.

Công hiệu:

Dưỡng âm thanh phế.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Viêm hang mũi do tỳ vị khí hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa viêm hang mũi do phế nhiệt gây bế tắc khiếu lạc mà ra. Chữa nên thanh tuyên khai thượng làm chủ. Trong bài Thương nhĩ tử tuyên thông tỵ  khiếu; Tang diệp sơ phong thanh nhiệt; Lộ lộ thông tuyên khiếu thông lạc; Bạch chỉ thông khiếu bài nùng; Hoàng cầm thanh phế nhiệt; Kiết cánh tuyên thanh phế khí, nước mũi đục tự hạ. Các vị cùgn dùng có công dụng dưỡng âm thanh nhiệt, sơ phong thông khiếu.

Bài 2: Thư uyên trà

Bài thuốc:

Tân di hoa 10g, Phòng phong 10g, Tiền hồ 10g, Thiên hoa phấn 12g, Ý dĩ nhân 20g, Kiết cánh 12g.

Chủ trị:

Chữa viêm hang mũi mạn tính. Thường thấy chảy nước mũi đục, lâu thì chảy ra màu vàng đục như mủ như tủy, tanh hôi khó ngửi, khứu giác giảm sút, lưỡi đỏ, rêu vàng hoặc vàng nhờn, mạch sác.

Công hiệu:

Sơ phong thanh nhiệt, thông khiếu bài nùng.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Viêm mũi do tỳ phế khí hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa viêm hang mũi do nhiệt tà kết ở phế, làm cho khiếu đạo không thông mà gây ra. Chữa nên thanh phế tiết nhiệt làm chủ. Thông khiếu bài nùng lợi thấp để hổ trợ. Trong bài Tân di hoa đi vào kinh phế chuyên về tán phong tuyên phế mà thông tỵ khiếu, nghiên cứu của dược lý hiện đại nêu rõ Tân di hoa có tác dụng ức khuẩn tiêu viêm và làm co thắt niêm mạc mũi; Phòng phong sơ phong thông lạc; Tiền hồ khai tiết giáng khí, hóa đàm thông khiếu; Kiết cánh tuyên phế khai tiết, 2 vị cùng dùng một thăng một giáng làm cho phế nhiệt tuyên thăng khai tán, đàm trọc khổ tiết hạ giáng; Ý dĩ nhân ngọt nhạt lợi thấp, lại có thể thanh phế bài nùng. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt khai tiết, Bài nùng thông khiếu. Nếu nghẹt mũi nhiều gia Bạc hà 10g để thông tỵ khiếu; Nước mũi ra vàng đặc gia Ngư tinh thảo 20g, Đông qua nhân 20g để tuyên phế bài nùng; Niêm mạc mũi sũng nước gia trạch tả 10g, Thổ phục linh 20g để lợi thấp tả trọc tiêu thủng; Niêm mạc mũi sưng đỏ gia Xích thược 12g, Mẫu đơn bì 12g để lương huyết tiêu thủng.

Bài 3: Thanh uyên hóa trọc trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 20g, Thổ phục linh 20g, Ngư tinh thảo 20g, Ý dĩ nhân 20g, Bạch chỉ 10g, Tân di hoa 10g, Bắc kỳ 10g, Lộ lộ thông 10g.

Chủ trị:

Chữa viêm hang mũi mạn tính thấy nước mũi ra vàng đục lượng nhiều, nặng thì chảy ngược trong miệng, mùi vị tanh hôi, nghẹt mũi nhiều, khứu giác không nhạy bén kèm có đầu trướng đau, bụng trướng tay chân uể oải, người lừ đừ tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch nhu sác.

Công hiệu:

Thanh lợi thấp trọc, thông khiếu bài nùng.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Viêm mũi do tỳ phế khí hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Kim ngân hoa, Thổ phục linh có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp hóa trọc; Ngư tinh thảo, Ý dĩ nhân có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp bài nùng; Bạch chỉ, Tân di hoa, Lộ lộ thông tuyên khiếu thông lạc; Bắc kỳ dùng sống có tác dụng thác độc sinh cơ. Phối hợp với Bạch chỉ, Ý dĩ nhân, Ngư tinh thảo có tác dụng bài nùng thác hủ rất tốt. Các vị cùng dùng có công dụng hóa thấp trọc, bài nùng trọc mà thanh tỵ khiếu.

NGOẠI KHOA

VIÊM TUYẾN VÚ CẤP

Bài 1: Sài thược tiêu ung trà

Bài thuốc:

Sài hồ 10g, Xích thược 12g, Bồ công anh 15g, Liên kiều 12g, Vương bất lưu hành 10g.

Chủ trị:

Chữa viêm tuyến vú cấp kèm có phong nhiệt. xuất hiện các triệu chứng như bầu vú kết khối sưng đau, vùng da hoặc đỏ hoặc trắng, tắt tia sữa, toàn thân kèm có nóng lạnh, nhức đầu, xương cốt đau nhức, tức ngực, mạch phù sác.

Công hiệu:

Sơ tán thanh nhiệt thông lạc tiêu ung.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần. thuốc sau khi sắc xong dùng vải bọc xác thuốc chườm vào vú đau khi thuốc còn ấm.

Cấm kỵ:

Khí huyết khuy hư không dùng bài này.

Lời bình:

Sau khi sanh sức đề kháng yếu, phong nhiệt tà độc từ nhũ lạc nhập vào bầu vú, cùng với nhũ uất kết lại mà phát sinh ra bệnh này. Chữa nên sơ tán nhiệt tà, thông lạc tiêu ung. Trong bài Sài hồ sơ tán nhiệt tà để thông vệ khí; Xích thược hòa dinh huyết để thông mạch; Vương bất lưu hành tiêu ứ tán kết, thông kinh hạ nhũ; Liên kiều hoạt huyết thanh nhiệt ở bên trong, trong thanh có thông; Bồ công anh thanh nhiệt giải độc, tiêu ung tán kết, là thuốc quan trọng chữa nhũ ung. Nghiên cứu của dược lý hiện đại nêu rõ Bồ công anh có tác dụng thông tia sữa có kết quả rõ rệt đối với viêm tuyến vú; ngoài ra các vị Xích thược, Bồ công anh, Liên kiều có tác dụng ức chế khác nhau đối với tụ cầu vàng. Các vị cùng dùng có công dụng lấy “thông” làm dụng, thông thì tia sữa được thông mà thủng trướng tự tiêu. Nếu sau sanh nhiều sữa thì gia Sơn tra 15g, Mạch nha 30g sao dùng để khai nguồn tiết lưu. Bã thuốc đắp bên ngoài vú đau, có thể thúc đẩy khối u bầu vú tiêu tán, đẩy nhanh hấp thu chứng viêm. Nhưng chỉ thích hợp với chứng nhũ ung mới phát mà chưa hóa mủ.

Bài 2: Hương hoa trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 30g, Nhũ hương 10g, Tạo giác thích 10g, Đương quy vỹ 10g, Triết bối mẫu 15g, Thiên hoa phấn10g.

Chủ trị:

Chữa viêm tuyến vú cấp tính thời kỳ hóa mủ. xuất hiện bầu vú trướng đau, có cảm giác nóng, có khối u gây đau nhức ấn vào đau hoặc kèm có sợ lạnh phát sốt, đầu, thân đau nhức, miệng khát, cầu bón, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch sác hữu lực.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc tiêu thủng hội kiên.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn thận trọng khi sử dụng bài này.

Lời bình:

Phụ nữ sau khi sanh tình chí không thư thái, dẫn đến can khí uất kết; hoặc sau khi sanh ăn quá nhiều các thức ăn bổ dưỡng, làm cho thấp nhiệt uất kết, khí uất nhiệt kết trong bầu vú, việc bài tiết sữa bị trở ngại, ứ kết hóa nhiệt thành ung. Chữa nên sơ can trệ, thanh vị nhiệt. trong bài trọng dụng Kim ngân hoa để thanh nhiệt giải độc tiêu ung chỉ thống; Đương quy vỹ, Nhũ hương thông lạc hoạt huyết, tán ứ mà tiêu thủng chỉ thống; Tạo giác thích hành lạc thông kinh, hội kiên khuyết ung, có thể làm cho mủ đã hình thành  lập tức vỡ; Thiên hoa phấn, Triết bối mẫu thanh nhiệt  hóa đàm, bài nùng tán kết. Nghiên cứu của dược lý hiện đại nêu rõ Kim ngân hoa có tác dụng kháng khuẩn tiêu viêm; Đương quy vỹ, Nhũ hương có tác dụng cải thiện vi tuần hoàn, tăng cường khả năng thực bào của tế bào bạch cầu và hệ thống tế bào lưới trong da, thúc đẩy tiêu giảm chứng viêm. ức chế viêm thấm xuất. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt giải độc, ức khuẩn tiêu viêm, làm thanh uất nhiệt, nhũ lạc thông mà ung thủng tự tiêu.

TUYẾN VÚ TĂNG SINH

Bài 1: Sơ can tán kết trà

Bài thuốc:

Đơn sâm 20g, Xích thược 15g, Sài hồ 10g, Miêu qua thảo 10g, Uất kim 15g, Phù hãi thạch 15g.

Chủ trị:

Chữa tăng sinh tuyến vú thuộc can uất. chứng thấy bầu vú sưng khối, ấn vào đau, kèm theo phiền khát người hay nổi giận, hay than vãn, mạch huyền.

Công hiệu:

Sơ can thông lạc, nhuyễn kiên tán kết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa trong vú có khối u do can uất khí trệ. Khí uất và huyết ứ do đàm nhiệt hổ kết mà thành. Chữa nên sơ can thông lạc, tán kết tiêu trưng; Sài hồ, uất kim sơ tiết can khí, giải uất thấu tà; Miêu qua thảo, phù hải thạch điều đàm tán kết. Các vị cùng dùng có tác dụng sơ can giải uất, hoạt huyết thông lạc, hóa đàm tán kết trong cơ thể. Làm cho can khí được điều đạt mà giải uất, đàm tiêu kết tán mà tiêu thủng. Khi khối u cứng gia triết bối mẫu 15g, Bồ công anh 20g, để tán kết tiêu thủng; bầu vú trướng nhiều gia quýt diệp 10g, Xuyên luyện tử 12g để sơ tiết can khí.

Bài 2: Thanh trần tán kết trà

Bài thuốc:

Thanh bì 10g, Trần bì 10g, Bồ công anh 20g, Vương bất lưu hành 10g, Lộ lộ thông 15g, Triết bối mẫu 15g, Thổ phục linh 30g.

Chủ trị:

Chữa nhũ tuyến tăng sinh thuộc đàm uất khí trệ. Xuất hiện bầu vú trướng đau, thăm khám thấy chổ sưng có hình tròn hoặc hình sợi xoắn hay dạng phiến, thường kèm có tinh thần uất ức, qua thời kỳ vú trướng thì thấy đau dữ dội, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Hành khí hóa đàm, thông lạc tán kết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dương hư và vị hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Can khí uất trệ thêm tỳ hư thấp trọng, thấp tụ thành đàm, đàm khí hổ kết, gây ách tắt nhũ lạc phát ra bệnh này. Chữa nên hành khí hóa đàm, thông lạc tán kết. Trong bài Thanh bì, Trần bì có tác dụng hành khí đạo trệ, táo thấp hóa đàm, khí hành thì thấp khứ đàm tiêu, tỳ kiện thì đàm thấp không có lý do gì mà phát sinh; Vương bất lưu hành, Bồ công anh thanh nhiệt hoạt huyết, tiêu thủng chỉ thống; Lộ lộ thông hóa đàm thông lạc để tiêu thủng; Triết bối mẫu, Thổ phục linh giải độc tiêu thủng tán kết. Trong bài tuy có cái ấm của Thanh,Trần bì khi phối ngũ với Bồ công anh thì không sợ nạn thương âm hao khí. Các vị cùng dùng vừa hành khí táo thấp hóa đàm lại thanh nhiệt thông lạc, tiêu thủng chỉ thống làm cho thấp được khử mà đàm không thể tụ, kinh lạc thông thì sưng sẽ giảm, đau sẽ dứt. Đau nhiều thì gia Xuyên luyện tử 12g; Bệnh kéo dài thủng khối khó tiêu gia Phù hải thạch 15g, Miêu qua thảo 15g.

ĐẦU VÚ CÓ TIẾT DỊCH

Bài 1: Sơ can lương huyết trà

Bài thuốc:

Sài hồ 10g, Thổ phục linh 30g, Mẫu đơn bì 12g, Sơn chi tử 10g, Hạn liên thảo 15g.

Chủ trị:

Chữa các chứng đầu vú tràn dịch do nang tuyến vú tăng sinh, chứng giãn mạch, bướu ống dẫn nhũ đầu. Chứng thấy đầu vú có dịch tràn ra nhưhuyết hoặc nhưmáu lẫn mủ, kèm có tâm phiền hay nổi giận, miệng khô đắng, lưỡi hồng rêu vàng, mạch sác.

Công hiệu:

Sơcan thanh nhiệt lương huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén. Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần.

Cấm kỵ:

Thể hưkhông có chứng nhiệt không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa đầu vú tràn dịch do can uất có nhiệt mà sinh ra; Can kinh chạy dọc theo hông sườn qua đầu vú, can kinh có nhiệt, uất mà không giải, hỏa nhiệt hun đốt ở tuyến vú, bức dịch tiết ra ngoài. Nhiệt làm tổn thương mạch máu nên dịch tràn ra nhưmáu, nhiệt làm rữa nát thành mủ nên dịch tràn ra nhưmủ máu. Chữa nên thanh nhiệt lương huyết sơcan. Trong bài Sài hồ có tác dụng sơcan lý khí, dưỡng huyết nhu can; Mẫu đơn bì, Sơn chi tử, Hạn liên thảo có tác dụng thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết; Thổ phục linh có tác dụng thanh nhiệt giải độc. Dịch trà có màu sắc đỏ tươi hoặc bầm thì gia Sinh địa hoàng 20g, Long đởm thảo 10g, Tiên hạc thảo 15g; Dịch ra có màu vàng nhạt gia Ý dĩ nhân 30g, Trạch tả 15g; Bướu ở ống dẫn nhũ đầu gia Bạch hoa xà thiệt thảo 20g, do dịch tràn ở đầu vú chỉ là một chứng trạng cần phải làm xét nghiệm để tìm ra nguyên nhân, để phòng ngừa và bài trừ biến chứng của ung thưcó thể xảy ra. Nếu do ung thưvú gây ra cần phải tiến hành phẩu thuật để điều trị, để tránh để dây dưa để kéo dài bệnh tình.

Bài 2: Thanh can chỉ dật trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Mẫu đơn bì 12g, Sơn chi tử 10g, Thanh bì 10g, Tam thất 10g.

Chủ trị:

Chữa đầu vú tràn dịch do can hỏa vượng. Xuất hiện chứng thấy dịch tràn ngoài đầu vú có màu tím đen nhưmáu, kèm theo người phiền táo dễ nổi giận, miệng đắng khô, lưỡi đỏ, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh can tả hỏa, lương huyết chỉ dật.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Khí huyết hư, vị hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa đầu vú tràn dịch ra nhưmáu do can hỏa vượng bức huyết chạy theo kinh mà tràn ra ngoài đầu vú. Chữa nên thanh can tả hỏa, lương huyết chỉ dật. trong bài Sơh chi tử có tác dụng thanh can tả hỏa; Thanh bì sơcan hóa khí hành trệ, sáp lạc chỉ huyết/ các vị cùng dùng làm tả can hỏa, đầu vú tràn huyết sẽ cầm. Nếu có khối u thì gia Hạ khô thảo, Côn bố, Hải tảo đều 15g; Bầu vú trướng đau gia hạt quýt 10g.

VIÊM RUỘT THỪA

Bài 1: Mạn lan trà

Bài thuốc:

Mẫu đơn bì 12g, Đào nhân 12g, Đông qua nhân 30g, Thổ phục linh 30g, Ý dĩ nhân 30g, Bồ công anh 30g.

Chủ trị:

Viêm ruột thừa mạn tính thuộc thể thấp nhiệt uất kết. Xuất hiện vùng bụng dưới bên phải đau lâm râm, kèm có lợm giọng buồn nôn nhẹ, ăn uống giảm thiểu, cầu bón tiểu đỏ, rêu vàng mỏng mạch phù sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt hóa thấp, hành ứ tán kết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén. Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn thận trọng khi dùng bài này.

Lời bình:

Thấp nhiệt uất kết bên trong, bại huyết và trọc khí kết lại rữa ra mà phát sinh lan vĩ viêm. Chữa nên thanh nhiệt lợi thấp, thông phủ tiết nhiệt. Trong bài Mẫu đơn bì, Đào nhân có tác dụng hành ứ tán kết; Bồ công anh, Thổ phục linh lương huyết thanh nhiệt, tiêu ung tán kết, làm thanh thấp nhiệt mà không để cho thịt rữa thành ung; Đào nhân, Ý dĩ nhân phá ứ hành trệ; Ý dĩ nhân hợp với Đông qua nhân tán kết tụ bên trong bụng, lại có thể tả ứ bài nùng. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt hóa thấp, hành ứ tán kết.

Bài 2: Cấp lan trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 30g, Đơn sâm 20g, Đào nhân 12g, Bồ công anh 30g, Bại tương thảo 30g, Đại hoàng 10g.

Chủ trị:

Chữa viêm ruột thừa cấp thể ứ trệ. Xuất hiện vùng bụng dưới đau hoặc xung quanh rốn đau, ấn vào đau tăng, phát sốt, lợm giọng buồn nôn hoặc nôn mữa, không muốn ăn uống, cầu bón hoặc tiêu chảy, chất lưỡi hồng nhạt hoặc có điểm ứ huyết.

Công hiệu:

Hành khí hoạt huyết, thanh nhiệt giải độc.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, chứng trạng nghiêm trọng thì 1 ngày 2 thang. Nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn thận trọng khi dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Kim ngân hoa có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thủng chỉ thống; Đơn sâm hành khí hoạt huyết chỉ thống; Đào nhân tán ứ giáng tiết thông tiện; Bồ công anh, Bại tương thảo thanh huyết nhiệt, hành ứ trệ, làm thanh ứ nhiệt mà không làm cho thịt rữa kết thành nhọt; Đại hoàng công hạ tích ứ mà thông tiện, tẩy rửa nhiệt tà mà tiêu ung. Các vị hợp dùng có công dụng hành khí hoạt huyết, thanh nhiệt giải độc. Làm cho khí hành huyết sướng, tà nhiệt tự trừ, các chứng đều giải.

VIÊM TÚI MẬT, SỎI MẬT

Bài 1: Hổ trượng kim xuyên trà

Bài thuốc:

Hổ trượng 30g, Uất kim 15g, Xuyên luyện tử 12g.

Chủ trị:

Chữa viêm túi mật cấp thuộc can đởm thấp nhiệt uất kết. Xuất hiện vùng bụng trên bên phải đau, cầu không thông, rêu lưỡi vàng dày, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh can lợi đởm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén. Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén. Chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Khí hư, vị hàn thận trọng khi dùng bài này. Có thai không dùng.

Lời bình:

Bài này dùng chữa viêm túi mật cấp do thấp nhiệt uất kết ở trong can đởm gây ra. Chữa nên thanh can lợi đởm. Trong bài Hổ trượng có thể ức chế virus, giải ứ trệ ở trung tiêu, giáng thấp nhiệt trong can đởm, khử ứ kết mà lợi thủy đạo, là vị thuốc tốt để chữa thấp nhiệt; Uất kim sơtiết can khí mà giải uất kết; Xuyên luyện tử tiết can khí giải can uất. Cả 3 vị cùng dùng có công dụng thanh can tả hỏa, lợi đởm. Nếu thấy vàng da gia Nhân trần 30g, Điền cơhoàng 20g, để thoái nhiệt, sơcan thanh nhiệt.

Bài 2: Sài hồ Nga truật trà

Bài thuốc:

Sài hồ 12g, Nga truật 12g, Bạch thược 12g, Thanh bì 10g, Thái tử sâm 30g.

Chủ trị:

Chữa viêm túi mật mạn tính xuất hiện triệu chứng vùng bụng trên không khoan khoái hoặc có lúc làm nóng lạnh, tiểu vàng, mắt vàng, cầu phân khi lỏng khi bón, miệng khô đắng, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Sơcan lý khí hành ứ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hưhàn thận trọng khi dùng bài này.

Lời bình:

“bệnh lâu đa ứ”. Bài này dùng chữa viêm túi mật mạn tính do bệnh phát đã lâu ứ trệ lưu ở bên trong mà gây ra. Chữa nên hành ứ tiêu đản. Trong bài Sài hồ thăng phát mộc uất, đối với chứng hông sườn đầy tức do can khí uất trệ. Và chứng khí huyết uất lâu ngày mà phát sinh chứng nóng lạnh là thich hợp; Bạch thược toan thâu mà liễm âm nhu can; Thanh bì lợi khí, Sài hồ tán khí, nhưng sợ lợi tán thái quá nên dùng Thái tử sâm để ức chế tính lợi tán; Nga truật Phá khí trong máu, tiêu tích thông lạc, làm cho ứ hành mà bệnh khỏi.

Bài 3: Kim tiền khai uất trà

Bài thuốc:

Kim tiền thảo 30g, Sài hồ 10g, Chỉ xác 12g, Bạch thược 15g, Uất kim 12g, Ô tặc cốt 10g.

Chủ trị:

Chữa viêm túi mật mạn tính, đởm thạch chứng. xuất hiện các triệu chứng vùng bụng trên bên phải có lúc đau lâm râm hoặc đau lan ra sau lưng, ợ hơi, bụng trướng đầy không thoải mái, người hay nổi giận, miệng đắng, lưỡi đỏ, mạch huyền.

Công hiệu:

Sơcan lợi đởm thanh nhiệt hóa thạch.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hưhàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa chứng can khí uất trệ mà gây ra. Chữa nên sơcan lợi đởm, hành trệ hóa thạch. Trong bài Km tiền thảo có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp bài thạch; Sài hồ sơcan đạt uất; chỉ thựclý khí tả trọc; Bạch thược hoảncấp chỉ thống; Uất kim khai uất chỉ thống; Ô tặc cốt trung hòa vị toan. Cácvị cùng dùng có công dụng lợi đởm, tiêu viêm, bài thạch chi công.

Bài 4: Lợi đởm hóa thạch trà

Bài thuốc:

Sài hồ 12g, Kim tiền thảo 20g, Uất kim 12g, Bồ công anh 20g, Nhân trần 20g, Kê nội kim 20g.

Chủ trị:

Chữa sỏ mật thuộc can khí uất kết xuất hiện vùng bụng trướng đau, ấn vào đau hoặc miệng đắng nôn khan, ăn uống không biết ngon, tiểu vàng đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Sơcan hóa trệ, lợi đởm bài thạch.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra làm 2 lần uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Vị hàn thận trọng khi dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa đởm thạch chứng thuộc can khí uất kết, Mộc uất hóa hỏa mà thành. Chữa nên sơcan lợi đởm, hóa trệ bài thạch. Trong bài Sài hồ, Uất kim sơcan lợi đởm; Nhân trần thanh thấp nhiệt ở can đởm; Bồ công anh thanh nhiệt tán kết; Kim tiền thảo lợi thấp bài thạch; Kê nội kim hóa thạch bài thạch.Các vị cùng dùng có công dụng sơcan lợi đởm, hành khí bài thạch.

Bài 5: Kim nhân trà

Bài thuốc:

Kim tiền thảo 30g, Nhân trần 30g.

Chủ trị:

Chữa hội chứng sau khi phẩu thuật túi mật. Xuất hiện đau vùng bụng trên bên phải lan ra sau lưng, người phát sốt lợm giọng buồn nôn, ăn uống không biết ngon. Cũng có thể chữa viêm túi mật đơn thuần.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp, lợi đởm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 3 chén nấu sôi khoảng 5 phút là được, uống dần thay nước trà.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hưhàn không dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Kim tiền thảo đắng chua mát. Có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi niệu bài thạch; Nhân trần đắng cay hơi hàn có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, lợi đởm thoái hoàng; cả 2 vị đều vào can đởm, đều có tác dụng thanh can lợi đởm. Do cả 2 vị đều có chứa tinh dầu, không nên sắc lâu, để không làm mất chất.

HỆ TIẾT NIỆU CẢM NHIỄM

Bài 1: Mao căn đại uyển trà

Bài thuốc:

Rễ tranh tươi 30g, Tiển băng đại uyển tươi 30g, Mã đề tươi 30g, đường phèn vừa đủ.

Chủ trị:

Chữa hệ tiết niệu mới phát thấy tiểu lắt nhắt, tiểu gắt buốt, tiểu vàng ít, mỗi lần đi tiểu đau buốt, lưỡi đỏ, mạch sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thủy thông lâm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 5 chén nước sắc còn 2 chén, uống thay nước trà.

Cấm kỵ:

Thận hưtiểu lắt nhắt không nên dùng bài này.

Lời bình:

Hệ tiết niệu cảm nhiễm thường do thấp nhiệt uế trọc trệ lại ở bàng quang mà sinh ra, chữa nên lợi thấp thanh nhiệt. Trong bài Bạch mao căn bên trên trừ phục nhiệt ở phế vị. Bên dưới tiết thấp nhiệt ở bàng quang. “sách y học ai trung tham tây lục” cho rằng: “ Bạch mao căn cần phải dùng tươi thì hiệu quả mới tốt.” nghiên cứu của dược lý hiện đại nêu rõ Bạch mao căn có chứa muối kali, có tác dụng lợi tiểu thấy rõ, lại kháng viêm, tăng cường tính miễn dịch; Băng đại uyển vị đắng tính hàn có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp thông lâm; Xa tiền thảo lợi thủy thông lâm. Cả 3 vị hợp dùng vừa có thể thanh nhiệt lợi thấp, vừa ức khuẩn thông lâm; Bài này dược vị tuy đơn giản, tuy nhiên dùng tươi công hiệu càng tốt,lại có vị ngọt, uống rất ngon, quả là có thuốc mát mà không đắng miệng, dễ uống. Ngoài ra bài này cũng có thể bỏ đường phèn thêm bong bóng heo hầm lầy nước uống.

Bài 2: Tả hỏa đạo xích trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 20g, Đạm trúc diệp 10g, Xa tiền thảo 20g, Trạch tả 12g, Ý dĩ nhân 30g, Mạch môn 12g.

Chủ trị:

Chữa hệ tiết niệu cảm nhiễm thuộc tâm hỏa vượng xuất hiện các triệu chứng tiểu lắt nhắt, tiểu gắt buốt, người bứt rứt, miệng khô hoặc có sốt về chiều, rìa lưỡi chót lưỡi đỏ.Ít rêu, mạch sác.

Công hiệu:

Thanh tâm đạo xích.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén.

Cấm kỵ:

Khí hư vị hàn không nên dùng bài này.

Lời bình:

Tâm hỏa thịnh, đưa nhiệt xuống tiểu trường, hun đốt bàng quang mà làm cho hệ tiết niệu cảm nhiểm. Chữa nên thanh tâm hỏa, lợi tiểu tiện. Trong bài Sinh địa hoàng, Mạch môn có tác dụng thanh tâm giáng hỏa; Đạm trúc diệp có tác dụng thanh tâm giáng hỏa, phối với Xa tiền thảo lợi thủy thông lâm, dẫn hoả đi xuống dưới; Trạch tả, Ý dĩ nhân lợi tiểu thông lâm. Các vị cùng dùng có công dụng giáng tâm hỏa, tà nhiệt theo đường tiểu mà giải ra ngoài thì tiểu tiện sẽ  trở lại bình thường. Nếu kèm có tiểu ra máu gia Bạch mao căn 20g, Tiểu kế  12g, để lương huyết lợi tiểu.

SỎI TIẾT NIỆU

Bài 1: Kim tiền tiêu thạch trà

Bài thuốc:

Kim tiền thảo 30g, Hải kim sa 12g, Kê nội kim 20g, Bạch thược 20g, Sinh địa hoàng 20g.

Chủ trị:

Chữa sỏi niệu quản thấy đi tiểu khó hay không có những triệu chứng gì khác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp, thông lâm trục thạch.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang. Nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Thấp nhiệt hạ chú, nung nấu tân dịch, kết tụ thành sỏi. Chữa bệnh trên nên thanh nhiệt lợi thấp kiêm thông lâm trục thạch. Trong bài Kim tiền thảo có tác dụng thanh lợi thấp nhiệt, thông lâm bài thạch, là thuốc quan trọng để chữa sỏi. Nghiên cứu của y học hiện đại đã nêu rõ Kim tiền thảo có chứa các thành phần hữu hiệu có thể hạ thấp độ PH , 利于草酸钙oxalic acid canxi, 碳酸钙 calcium carbonate, 磷酸phosphascalcium,钙镁 phosphasmagieum, kết thạch đích dung giải; Hải kim sa vị ngọt lạnh có tác dụng thanh lợi, hóa thạch bài thạch. “sách bản thảo cương mục” nói “chữa thấp nhiệt thủng mãn, tiểu tiện nhiệt lâm, cao lâm, huyết lâm, thạch lâm âm hành đau, giải nhiệt, độc khí”; Kê nội kim có tác dụng hóa thạch, bài thạch, dung thạch; Sinh địa hoàng, Bạch thược lợi tiểu mà không làm tổn thương âm. Các vị cùng dùng có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, bài thạch dung thạch.

Bài 2: Kim kê bài thạch trà

Bài thuốc:

Kim tiền thảo 30g, Kê nội kim 20g, Cù mạch 15g, Xa tiền thảo 15g, Xuyên ngưu tất 10g, Bạch mao căn 30g.

Chủ trị:

Chữa hệ tiết niệu thuộc thể hạ tiêu có thấp nhiệt. Xuất hiện tiểu lắt nhắt, tiểu gắt hoặc đường tiểu đau như bị dùi đâm hoặc kèm có tiểu ra máu, bụng dưới trướng, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt tiêu thạch, lợi thủy thông lâm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang. Nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn thận trọng khi dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa sỏi niệu đạo do thấp nhiệt uất kết gây ra. Chữa nên thanh nhiệt lợi tiểu, thông lâm hóa thạch. Trong bài Kim tiền thảo, Kê nội kim thanh nhiệt hóa thạch thông lâm; Xa tiền thảo. Bạch mao căn, Cù mạch lợi tiểu thanh nhiệt, thông lâm bài thạch; Xuyên ngưu tất hành ứ trệ, dẫn thuốc hạ hành. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt lợi tiểu, bài sa tiêu thạch.

Bài 3: Đơn sâm bài thạch trà

Bài thuốc:

Đơn sâm 20g, Tam thất 20g, Xuyên ngưu tất 12g, Kim tiền thảo 30g, Hải kim sa 15g, Kê nội kim 20g, Trạch tả 12g.

Chủ trị:

Chữa sỏi niệu đạo thuộc khí trệ huyết ứ. Xuất hiện tiểu ra máu, bụng dưới trướng đau, gõ vào thận đau, ngực sườn đầy trướng, chất lưỡi sậm hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền.

Công hiệu:

Hoạt huyết lý khí, thông lâm bài thạch.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén. Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Vị hàn thận hư không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Đơn sâm hòa huyết thông lạc, phối với Xuyên ngưu tất để hoạt huyết hóa ứ; Kim tiền thảo, Hải kim sa, Kê nội kim, Trạch tả thông lâm hoạt khiếu, lợi tiểu bài thạch. Các vị phối dùng vừa hoạt huyết hóa ứ, lại thông lâm lợi tiểu tiện. y học hiện đại đã chứng minh Kim tiền thảo, Hải kim sa, Kê nội kim đều có tác dụng bài thạch, liên hợp phối dùng thì hiệu quả càng tốt.

TRĨ

Bài 1: Hòe hoa trà

Bài thuốc:

Hòe hoa 20g, Sinh địa hoàng 30g, Nhân trần 20g, Thổ phục linh 30g.

Chủ trị:

Trĩ sang thuộc thấp nhiệt kết bên trong. Chứng thấy đại tiện xuất huyết, sắc đỏ tươi, lượng ít, kèm thấy miệng đắng, tiểu đỏ, cầu bón, rêu vàng, mạch huyền.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp, lương huyết chỉ huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang. Nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra 2 lần uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Trĩ do tỳ hư khí hãm  không nên chọn dùng bài này. Không ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia, thuốc lá và các chất kích thích.

Lời bình:

Ăn quá nhiều các chất cay nóng, ngọt béo thì thấp tụ sinh nhiệt, thấp nhiệt hạ chú, uất kết ở hậu môn phát ra trĩ chữa nên thanh nhiệt lợi thấp, lương huyết chỉ huyết. trong bài Hòe hoa có tác dụng thanh thấp nhiệt ở đại trường, lương huyết chỉ huyết, là thuốc quan trọng để chữa trĩ; Sinh địa hoàng có tác dụng thanh nhiệt lương huyết, chỉ huyết, Trợ hòe hoa để tăng cường công hiệu lương huyết chỉ huyết; Nhân trần, Thổ phục linh, thanh nhiệt lợi thấp. Các vị cùng dùng có công dụng thanh thấp nhiệt, trĩ tiêu huyết chỉ.

Bài 2: Giải độc tiêu trĩ trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Hòe hoa 20g, Xích thược 10g, Đơn sâm 15g, Liên kiều 15g, Bồ công anh 20g.

Chủ trị:

Trĩ thuộc nhiệt độc uất tích. Chứng thấy cầu ra máu, màu máu đỏ tươi, cầu bón, tiểu vàng, miệng đắng, nặng trằn hậu môn hoặc có cảm giác nóng rát, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch nhu sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, lương huyết tiêu trĩ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 1 chén sắc còn ½ chén chia ra 2 lần uống trong ngày. Nước 3 nấu lấy nước ngồi xông.

Cấm kỵ:

Tỳ hư vị hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Thấp độc uất tích, khí hư ủng trệ không thông, đi xuống phía dưới mà phát sinh trĩ.

Chữa nên thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ huyết. Trong bài Sinh địa hoàng thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết; Hòe hoa có tác dụng thanh trường lương huyết chỉ huyết. Là vị thuốc cần thiết để chữa trường phong hạ huyết. Xích thược, Đơn sâm lương huyết hoạt huyết; Liên kiều thanh nhiệt ở tam tiêu mà tả hỏa chữa sang độc. Hợp bồ công anh thanh nhiệt giải độc, tán kết chỉ thống. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ huyết. Xác thuốc nấu lấy nước ngồi xông, làm cho thuốc tiếp xúc trực tiếp với chổ bệnh, có tác dụng thanh nhiệt tiêu viêm chỉ thống, nội ngoại cùng chữa, hiệu quả gấp đôi.

Bài 3: Sơ phong tiêu chỉ trà

Bài thuốc:

Thuyền thoái 15g, xích tiểu đậu 20g, Kim ngân hoa 20g, Kinh giới 12g, Khổ sâm 12g, Đông qua nhân 30g.

Chủ trị:

Chữa trĩ ra máu thuộc phong hỏa. Khi đi cầu xuất hiện 1 cục thịt nhỏ lòi ra từ hậu môn gây đau nhức, có lúc ra máu, giang môn ngứa, cầu táo kết.

Công hiệu:

Sơ phong tả hỏa, lương huyết tiêu trĩ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần; Nước 3 sắc lấy nước ngồi xông.

Cấm kỵ:

Rượu bia, thuốc lá, các chất kích thích và không để nhọc mệt quá sức.

Lời bình:

Phong hỏa kết ở trực tràng và hậu môn mà thành trĩ. Chữa nên sơ phong tả hỏa, lương huyết chỉ huyết. Trong bài Kim ngân hoa thanh nhiệt giãi độc; Thuyền thoái, Kinh giới, Khổ sâm có tác dụng sơ phong chỉ dượng; Xích tiểu đậu thanh hỏa tả nhiệt; Đông qua bì nhuận trường thông tiện. Các vị cùng dùng có công  dụng tả hỏa sơ phong, lương huyết tiêu trĩ. Xác thuốc cho nước vào sắc ngồi xông ngâm sao cho nước thuốc ngấm trực tiếp vào chổ bệnh có tác dụng thanh nhiệt tiêu viêm, chỉ thống. Trong ngoài cùng chữa thu được hiệu quả gấp đôi.

BÌ PHU KHOA

NÁM MẶT(黄褐斑)

Bài 1: Thanh can tiêu ban trà

Bài thuốc:

Sơn thù nhục 15g, Xuyên luyện tử 10g, Ích mẫu thảo 20g, Mẫu đơn bì 12g, Hạn liên thảo 20g, Bạch thược 30g.

Chủ trị:

Do uất ức quá độ, hoặc do buồn giận hay nhiều đêm thao thức熬夜 mà đột nhiên phát sinh nám mặt. Phần nhiều kèm có tâm phiền, đêm ngủ hay mơ mộng, miệng khát, lưỡi đỏ, mạch huyền sác hoặc tế sác.

Công hiệu:

Thanh can tư thận, ích âm tiêu ban.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ thận dương hư thận trọng khi dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa chứng do tình chí không đều hòa, làm cho khí huyết nghịch loạn không thể vinh nhuận lên trên mặt mà phát sinh bệnh. chữa nên sơ can khí, dưỡng can thận, điều khí huyết. Trong bài Sơn thù nhục có tác dụng dưỡng can thận mà cố bản; Xuyên luyện tử phối với mẫu đơn bì có thể thanh can nhiệt mà tiết can khí, làm cho can khí được tiết, giải mộc uất hành khí huyết; Ích mẫu thảo, Hạn liên thảo có tác dụng ích âm ở can thận, lại có thể hành khí điều huyết; Bạch thược dưỡng âm nhu can. Các vị hợp dùng có công dụng Thư can giải uất, Thanh can nhiệt, dưỡng thận. Làm cho khí huyết âm dương điều hòa mà nám mặt tự khỏi. Nếu cầu bón gia Thảo quyết minh 20g, Táo nhân 15g, có tác dụng nhuận trường thông tiện. Tính tình uất ức gia Uất kim, 12g, Tử hinh hoa 12g, sơ can giải uất; Tính tình kích động dễ cáu gắt gia mạch môn 15g, Thái tử sâm 15g để thanh tâm giáng hỏa.

Bài 2: Hoạt huyết tiêu ban trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 20g, Bạch chỉ 10g, Đương quy vỹ 15g, Mẫu đơn bì 15g, Hương phụ 12g, Đơn sâm 15g, Ích mẫu thảo 20g.

Chủ trị:

Chữa nám mặt thuộc thể can uất huyết ứ. Xuất hiện trên mặt có những đốm nám lớn nhỏ không đều, kèm thấy ngực sườn đầy tức hoặc đau nhưbị dùi đâm, phụ nữ kinh không đều, có kinh đau bụng, chất lưỡi bầm hoặc rìa lưỡi có điểm ứ huyết, mạch huyền.

Công hiệu:

Sơcan giải uất, hoạt huyết thông lâm.

Cách dùng:

Mổi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hưhàn không nên dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa mặt nám do tình chí nghịch loạn, can khí uất trệ, huyết mạch không thông, huyết ứ trệ ở gò má mà sinh ra bệnh. Chữa nên sơcan giải uất, hoạt huyết thông lạc. Trong bài dùng Sinh địa hoàng, Mẫu đơn bì thanh nhiệt lương huyết; Đơn sâm hoạt huyết khử ứ sinh tân; Hương phụ sơcan lý khí; Đương quy vỹ hòa huyết hoạt huyết. Tán ứ ở mặt; Bạch chỉ khu phong tăng bạch(làm sáng vết nám). Các vị cùng dùng có công dụng hoạt huyết mà không tán huyết, khử ứ mà không làm tổn thương chính khí, lương huỵết mà không ngưng trệ. Nếu kinh ra ít kèm có huyết khối gia Đào nhân 10g, Hồng hoa 10g; Kinh lượng nhiều gia A giao 15g; Mất ngủ nhiều mộng gia Toan táo nhân 12g, Ngũ vị tử 10g; Cầu bón gia Nữ trinh tử 12g, Đào nhân 12g.

Bài 3: Giáng hỏa tiêu ban trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 15g, Tri mẫu 10g, ích mẫu thảo 20g, Mẫu đơn bì 10g, Thuyền thoái 10g, Mạch môn 12g.

Chủ trị:

Chữa nám mặt, xuất hiện các chứng người phiền táo, miệng khát, hoặc lở miệng, chất lưỡi đỏ, mạch sác.

Công hiệu:

Ích khí dưỡng âm, lương huyết tiêu ban.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra 2 lần uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Vị hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Âm hưhỏa vượng, xâm nhập doanh huyết, huyết bị nhiệt nung nấu thành ứ, ứ nhiệt theo kinh phạm lên mặt mà phát sinh bệnh. Trong bài Thái tử sâm, Mạch môn thanh nhiệt ích âm giáng hỏa; Tri mẫu giáng hỏa mà trừ phiền nhiệt; Mẫu đơn bì, Ích mẫu thảo thanh dinh lương huyết, hoạt huyết tiêu ban; Thuyền thoái sơphong, chuyên về bóc tách làm cho sắc nám tiêu trừ. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt giáng hỏa, lại có thể lương huyết tiêu phong, làm thanh nhiệt, lương huyết mà tiêu ban.

Bài 4: Lợi thấp tiêu ban trà

Bài thuốc:

Nhân trần 20g, Thổ phục linh 30g, Thương truật 10g, Bạch chỉ 10g, Trần bì 10g, Ý dĩ nhân 30g.

Chủ trị:

Chữa nám mặt thuộc thể tỳ hư thấp nhiệt. Xuất hiện các triệu chứng mặt nám giống như bụi bẩn, kèm thấy ăn không ngon, ngực bụng tức trướng, cầu khác lúc bình thường, tiểu vàng đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Lợi thấp tiêu ban.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra làm 2 lần uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ hư không có thấp nhiệt không nên dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Thương truật, Nhân trần, Thổ phục linh có tác dụng táo thấp thanh nhiệt; Ý dĩ nhân lợi thấp thanh nhiệt mà làm sáng vết nám; Trần bì táo thấp kiện tỳ, lý khí hòa vị. Các vị cùng dùng có công dụng kiện tỳ thanh lợi thấp nhiệt khi tỳ đã mạnh thì thấp không có chổ tụ, nhiệt không phát sinh được, mặt nám tự nhạt.

THẤP CHẨN

Bài 1: Thấp chẩn thanh giải trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Liên kiều 15g, Bồ công anh 20g, Nhân trần 20g, Thổ phục linh 30g, Khổ sâm 12g, Thuyền thoái 10g.

Chủ trị:

Chữa thấp chẩn cấp và bán cấp. Bện hphát mau, vùng da bị tổn thương nổi đỏ, mọng nước, lở loét chảy nước, mép dày, ngứa ngáy dữ dội hoặc kèm có cầu bón tiểu vàng, miệng khát, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, lợi thấp chỉ dượng.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều; Nước 3 nấu lấy nước lọc bỏ bả, xông rửa chổ ngứa.

Cấm kỵ:

Huyết hư khí nhược không nên chọn dùng bài này. Không ăn các thức ăn như Tôm, cua, măng và các chất kích thích khác như rượu bia thuốc lá, các chất cay nóng.

Lời bình:

Người có cơ địa dị ứng lại ăn quá nhiều các thức ăn béo bổ, hải sản như tôm cua. Thấp ủ phát sinh nhiệt, thấp nhiệt uất kết phát ở ngoài da mà sinh thấp nhiệt. Chữa nên thanh nhiệt lợi thấp, sơ phong chỉ dượng. Trong bài Sinh địa hoàng thanh nhiệt lương huyết; Liên kiều, Bồ công anh thanh nhiệt giải độc; Nhân trần, Thổ phục linh có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp giải độc; Khổ sâm táo thấp, phối với Thuyền thoái có tác dụng tiêu phong chỉ dượng. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu phong chỉ dượng. Khử thấp tà, thanh thấp nhiệt, tiêu thấp chẩn. Xác thuốc nấu lấy nước rửa bên ngoài, có hiệu quả trong ngoài cùng chữa. Nếu thấp nhiệt gây ngứa ngáy dữ dội. Dịch chảy ra nhiều gia Xà sàng tử 20g, Địa phu tử 20g, Khổ sâm 20g, Bách bộ 20g, Hoàng bá 20g, Ngân hoa đằng 30g, Bố tra diệp 20g, các vị phối hợp với nhau nấu lấy nước, để cho thuốc nguội bớt rửa chổ ngứa. Chú ý nước thuốc dùng rửa ngoài không thể cho thêm nước vào để phòng ngừa lây nhiễm vùng da bị thương tổn.

Bài 2: Lương huyết tiêu chẩn trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Đơn sâm 15g, Nhân trần 20g, Thổ phục linh 30g, Trạch tả 10g, Tạo giác thích 10g.

Chủ trị:

Chữa dị ứng, dị ứng bán cấp,脂溢性皮炎 tái phát. Xuất hiện da nổi dị ứng, sắc da có màu nâu sậm, bề mặt thô sần, ngứa ngáy mắc gải gây chảy nước, miệng khô, tâm phiền, cầu bón, lưỡi đỏ, mạch tế sác.

Công hiệu: Tư âm dưỡng huyết, trừ thấp nhuận táo.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều; Nước 3 nấu lấy nước xông rửa chổ ngứa.

Cấm kỵ:

Lời bình:

Chữa dị ứng mạn tính do thấp chẩn cấp tính tái diễn hoặc do bệnh để lâu ngày chuyển sang mạn tính mà thành. Bệnh để lâu thì làm hao huyết thưong âm, cho nên bệnh này lấy âm hư làm gốc, thấp độc niệt chẩn làm tiêu. Chữa nên tư âm dưỡng huyết, trừa thấp nhuận táo. Trong bài Sinh địa hoàng, Đơn sâm tư âm dưỡng huyết, thanh nhiệt hòa dinh, vừa bổ âm huyết bất túc, vừa phòng thấm lợi âm dích bị tổn thương của các vị thuốc; Tạo giác thích, Thổ phục linh, Trạch tả lợi thấp khử thấp, lại có thể thanh nhiệt giải độc. Các vị phối dùng có công dụng tư âm dưởng huyết, khử thấp chỉ dượng.

Bài 3: Tiểu nhi thấp chẩn trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 10g, Thổ phục linh 10g, Nhân trần 8g, Thuyền thoái 8g, Bố tra diệp 8g.

Chủ trị:

Chữa trẻ em thấp chẩn, lác sữa màu đỏ tươi, ngứa gải không thôi, phiền táo không yên, đêm ngủ không yên, lưỡi đỏ, chỉ tay tím.

Công hiệu:

Kiện tỳ lợi thấp thanh nhiệt chỉ dượng.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang đổ 2 chén sắc còn 1 chén chia ra làm 3 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không có thấp nhiệt thì không dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Thái tử sâm ích khí dưỡng âm, thanh hỏa thượng kháng, để phù chính cố bản; Thổ phục linh, Nhân trần thanh nhiệt tả hỏa, lợi thấp trọc; Thuyền thoái khu phong chỉ dượng, lại có thể ích khí lợi thủy, để phòng công phạt thái quá mà tổn thương tỳ vị, dẫn đến bệnh tình dây dưa không khỏi. Thấp chẩn nặng gia Kim ngân hoa 10g, Bồ công anh 8g để giải độc thanh nhiệt; Trẻ quấy khóc nhiều gia Mạch môn 8g, để thanh tâm an thần. Ngoài thuốc uống trong ra cũng có thể dùng Kim ngân hoa 50g, Trà xanh 50g, nấu lấy nước rửa chổ ngứa. Kim ngân hoa, Trà xanh có tác dụng kháng khuẩn tiêu viêm, thu liễm, nước sắc rửa chổ ngứa có công dụng thanh nhiệt chỉ dượng.

ZONA (DỜI)

Bài 1: Thanh tử trà

Bài thuốc:

Đại thanh diệp 20g, Tử thảo 15g, Sinh địa hoàng 20g, Thổ phục linh 30g, Nhân trần 20g, Cam thảo 6g.

Chủ trị:

Chữa dời ăn, thấy nổi những mụn nước màu đỏ mọc thành chùm, chung quanh có quầng đỏ, mụn nước vỡ chảy ra nước, có cảm giác đau nhức và nóng rát, kèm có miệng khô ráo, chất lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Kháng virus, thanh thấp nhiệt.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn thận trọng khi dùng bài này.

Lời bình:

Thấp nhiệt độc uất kết ở da thịt mà phát sinh dời ăn. Chữa nên thanh nhiệt lợi thấp. Trong bài Đại thanh diệp có tác dụng thanh nhiệt giải độc, kháng virus, tiêu viêm; Tử thảo, Sinh địa hoàng có tác dụng lương huyết, thanh nhiệt giải độc; Thổ phục linh, Nhân trần có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp; Cam thảo hoãn cấp chỉ thống mà hòa chư dược. Các vị cùng dùng có công dụng kháng virus, thanh thấp nhiệt.

Bài 2: Đào hồng trà

Bài thuốc:

Đào hồng 10g, Hồng hoa 10g, Kê huyết đằng 20g, Đơn sâm 20g, Sinh địa hoàng 20g, Huyền hồ sách 10g.

Chủ trị:

Chữa dời ăn sau khi khỏi đau thần kinh, xuất hiện chổ dời ăn hoàn toàn khỏi nhưng vùng cục bộ có cảm giác nóng rát gây đau như bị dùi đâm, chổ đau thường cố định, cơn đau nhiều lần, kéo dài không khỏi.

Công hiệu:

Dưỡng âm thanh nhiệt, hoạt huyết chỉ thống.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén.

Cấm kỵ:

Thể hư vị hàn không ứ trệ không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Dời là do virus thấm nhập vào cơ thể, xuyên qua lớp phôi bên ngoài tổ chức thần kinh cảm giác mà phát sinh. Nguyên nhân do điều trị không triệt để hoặc kéo dài lâu ngày, sức đề kháng giảm thiểu, làm tổn thương thần kinh cảm giác. Cho nên người già mắc bệnh này hay thấy thần kinh đau. Trung y cho rằng âm dịch bất túc, dẫn đến việc vận hành bị trì trệ, mà sản sinh ứ huyết, ứ trệ kinh mạch, không thông thì sẽ thông. Chữa nên tư âm dưỡng tân, hành huyết chỉ thống. Trong bài Đào nhân, Hồng hoa, Kê huyết đằng, Đơn sâm.v.v.v. có tác dụng hoạt huyết thông lạc chỉ thống mà không làm tổn thương âm; Huyền hồ sách có tác dụng chỉ thống; lại phối dùng Sinh địa hoàng để tăng dịch dưỡng âm, làm cho âm huyết sung, kinh lạc thông, vùng tổn thương được hồi phục mà đau nhức hết.

TẦM MA CHẨN(MỀ ĐAY)

Bài 1: Tứ bì trà

Bài thuốc:

Mẫu đơn bì 15g, Bạch tiễn bì 15g, Địa cốt bì 12g, Tang bạch bì 15g.

Chủ trị:

Bán cấp, mạn tính mề đay. Chứng thấy ngoài da nổi ngứa, kế phát phong bế, phong bế lớn nhỏ không đều, chổ này nổi chổ kia lặn, sau khi mề đay lặn không để lại dấu vết, thường thấy bụng trướng đầy, hoặc lợm giọng nôn khan, ói mữa.

Công hiệu:

Sơ phong hòa huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Thận hư tiểu nhiều không nên chọn dùng bài này. Không ăn tôm cá, cay nóng, rượu bia và các chất kích thích khác.

Lời bình:

Trong bài Mẫu đơn bì thanh nhiệt lương huyết hòa huyết tiêu chẩn; Bạch tiển bì khu phong chỉ dượng; Địa cốt bì, Tang bạch bì tiết phế mà thanh bì mao. Các vị cùng dùng có công dụng sơ phong hòa huyết.

Bài 2: Bạch kim trà

Bài thuốc:

Bạch tiển bì 20g, Kim ngân hoa 20g, Khổ sâm 12g, Nhân trần 20g, Thổ phục linh 30g.

Chủ trị:

Chữa mề đay phát bệnh nhanh, bộ vị thường ở trên, vùng da bị bệnh nổi những nốt sần đỏ, khâu chẩn, thuỷ bào, phong bế, có cảm giác ngứa ngáy, chất lưỡi đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù hoạt.

Công hiệu:

Thấu nhiệt giải biểu. hóa thấp tiêu chẩn.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Không ăn các thức ăn cay nóng, các loại hải sản, rượu bia các loại.

Lời bình:

Trong bài Bạch tiễn bì, Khổ sâm có tác dụng thanh lợi thấp nhiệt, chỉ dượng; Nhân trần, Thổ phục linh hóa trọc trừ đàm giải độc; Kim ngân hoa thanh giải thấu nhiệt, lại có thể lợi thấp tiêu chẩn. Các vị cùng dùng có tác dụng thanh thấp tà, tán nhiệt tà mà chẩn tiêu dượng chỉ.

Bài 3: Tam sinh trà

Bài thuốc:

Tam thất 12g, Sinh địa hoàng 30g, Mẫu đơn bì 12g, Xích thược 12g, Bồ công anh 15g.

Chủ trị:

Chữa mề đay thuộc huyết nhiệt. Xuất hiện những nốt sần đỏ mà có cảm giác nóng, ngứa không chịu nổi. sau khi gải vùng da tại chổ nổi mẩn đỏ, mép không có quy tắc, nặng thì nổi thành từng dề, kèm theo tâm phiền, miệng khát, cầu khô tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch sác.

Công hiệu:

Lương huyết hoạt huyết, tiêu chẫn chỉ dượng.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Mề đay thuộc huyết hư phong táo và tỳ vị hư hàn không dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Tam thất, Xích thược có tác dụng hoạt huyết tán ứ, làm hành huyết chỉ dượng. Sinh địa hoàng, Mẫu đơn bì, có tác dụng thanh nhiệt lương huyết, tư âm nhuận táo; Tả hỏa độc, các vị thuốc cùng dùng có công dụng lương huyết hoạt huyết, thanh nhiệt tiêu độc. Bài này là bài thuốc thông dụng chữa mề đay, khi chữa mề đay mạn tính gia Phòng phong 10g, Thuyền thoái 10g, Kinh giới 12g, để tán phong chỉ dượng; Chữa mề đay kinh niên Địa phu tử 15g, Chỉ xác 12g, cùng dùng. Cầu bón gia Đại hoàng 10g.

DƯỢC CHẨN

Bài 1: Sinh trúc trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Đạm trúc diệp 10g, Mẫu đơn bì 10g, Xích thược 10g, Kim ngân hoa 10g, Thổ phục linh 30g.

Chủ trị:

Chữa dị ứng với thuốc thấy vùng da nổi mẫn đỏ, sờ vào có cảm giác nóng, kèm thấy miệng môi khô khát, tiểu vàng ngắn đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch tế hoạt hoặc mạch sác.

Công hiệu:

Thanh dinh lương huyết, tiết nhiệt hóa độc.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Ngưng không uống các loại thuốc nghi ngờ gây ra dị ứng. Tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trung y gọi nguyên nhân do uống thuốc mà gây ra phản ứng ở nội tạng hoặc bì phu là “Dược độc”. Dị ứng với thuốc phát sinh là do cơ thể vốn nhạy cãm với 1 thành phần nào đó có trong thuốc, lại do dược độc ở bên trong gây ra.Chữa nên Thanh dinh lương huyết, giải độc hóa ban; Thổ phục linh, Kim ngân hoa, có tác dụng thanh nhiệt giải độc mà không làm tổn thương âm dịch; Đạm trúc diệp khinh thanh thăng tán, trừ phiền nhiệt mà lợi tiểu tiện. Các vị cùng dùng đều có công dụng là thanh dinh lương huyết, tiết nhiệt hóa độc, hóa ban bảo vệ tân dịch. Nhiệt nhiều ngoài da có cảm giác nóng rát đỏ nhiều thì gia Hoàng cầm 10g, để thanh thấp nhiệt; Thấp nhiều bì phu bị thấp tà vít lấp thì nên gia Trạch tả 12g, Ý dĩ nhân 20g để giáng trọc lợi thấp thu liễm.

Bài 2: Sâm mạch tiêu chẩn trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 20g, Mạch môn 15g, Sinh địa hoàng 20g, Thổ phục linh 30g, Bồ công anh 20g, Mẫu đơn bì 10g.

Chủ trị:

Chữa dị ứng với thuốc gây viêm da, vùng da bị viêm chuyển sang màu nâu sậm, da khô tróc, miệng khô họng ráo, lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác.

Công hiệu:

Ích khí dưỡng âm, thanh nhiệt tiêu chẩn.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần sáng chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa dị ứng với thuốc, bệnh phát không lâu, nhiệt hun đốt làm tổn hao tân dịch. chữa nên ích khí dưỡng âm làm chủ, kiêm lương huyết giải độc. Trong bài Thái tử sâm, Mạch môn có tác dụng ích khí dưỡng âm; Sinh địa hoàng, Mẫu đơn bì có tác dụng thanh nhiệt lương huyết tăng dịch; Bồ công anh lương huyết thanh nhiệt giải độc; Thổ phục linh lợi thấp giải độc chỉ dượng. Các vị cùng dùng có tác dụng ích khí dưỡng âm, thanh nhiệt tiêu chẩn.

DỊ ỨNG MỸ PHẨM

Bài 1: Bạch hoa trà

Bài thuốc:

Bạch tiển bì 20g, Dã cúc hoa 15g, Bồ công anh 20g, Kim ngân hoa 15g, Liên kiều 10g, Thuyền thoái 10g.

Chủ trị:

Chữa viêm da do dị ứng với mỹ phẩm. xuất hiện các triệu chứng sau khi sử dụng mỹ phẩm ngoài da nổi những dề màu đỏ nặng thì sưng to, gây ngứa, hoặc kèm có cảm giác nóng rát. Hoặc nổi những nốt sần to nhỏ không đều mọc tập trung thành dề kết thành phiến, mép không rõ hoặc kèm có cầu bón tiểu vàng, miệng khô, chất lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt mỏng, mạch sác.

Công hiệu:

Khu phong lợi thấp, thanh nhiệt giải độc.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần trong ngày.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hưhàn không nên dùng bài này.

Lời bình:

Viêm da do dị ứng với mỹ phẩm là do da quá mẫn cảm, Phong thấp nhiệt độc uất ở da mà gây nên. Chữa nên khu phong thanh nhiệt lợi thấp. Trong bài Bạch tiển bì, Dã cúc hoa thanh nhiệt giải độc, lợi thấp chỉ dượng; Bồ công anh, Kim ngân hoa, Liên kiều có tác dụng tuyên tán nhiệt tà, thanh nhiệt giải độc; Thuyền thoái sơphong chỉ dượng. Các vị cùng dùng có công dụng  sơphong thanh nhiệt, lợi thấp giải độc. Viêm da thấy đỏ chảy nước gia Sinh Địa hoàng 30g, Tử thảo 10g; Da khô rụng gia Đương quy vỹ 10g, Bạch thược 10g, sắc tố lắng đọng kèm theo người mập gia Ngọc trúc 10g, Tri mẫu 12g Hoàng bá 10g. Sau khi uống thuốc có thể lấy xác thuốc cho nước vào sắc thêm, đợi thuốc còn ấm dùng gạc sạch chấm nước thuốc đắp vào chổ đau, hoặc dùng nước thuốc rửa mặt sáng và chiều.

Bài 2: Hoàng cầm trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 20g, Thổ phục linh 20g, Xích thược 12g, Bạch thược 15g, Bồ công anh 15g, Tạo giác thích 15g, Ý dĩ nhân 20g.

Chủ trị:

Chữa viêm da do dị ứng với mỹ phẩm thuộc nhiệt độc thịnh. Chứng thấy sau khi dùng mỹ phẩm vùng da nổi mẫn sưng đỏ. Nóng ngứa hoặc nổi mụn trứng cá, trên đầu mụn có mủ, kèm thấy sưng trướng, người phiền táo dễ nổi giận miệng khô đắng, cầu bón tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lương huyết.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra 2 lần uống trong ngày.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hưhàn không nên chọn dùng bài này, cữ ăn các thức ăn cay nóng.

Lời bình:

Trong bài Sinh địa hoàng, Xích thược thanh nhiệt lương huyết hoạt huyết; Bồ công anh có tác dụng giải độc, thanh nhiệt tiêu thủng chỉ thống; Tạo giác thích thanh nhiệt giải độc bài nùng; Bạch thược sơcan giải uất; Thổ phục linh, Ý dĩ nhân thanh nhiệt lợi thấp giải độc. Các vị cùng dùng có công dụng lương huyết, giải độc, thanh nhiệt chỉ dượng.

BỆNH VẪY NẾN

Bài 1: Hoàng bạch tử xích trà

Bài thuốc:

Sinh địa hoàng 30g, Bạch tiển bì 20g, Tử thảo 12g, Xích thược 12g, Thổ phục linh 30g, Kim ngân hoa 15g.

Chủ trị:

Ngưu bì tiển thuộc huyết nhiệt. Chứng thấy vùng da bị tổn thương không ngừng gia tăng và khuếch đại, da đỏ như phỏng, trông giống như cái sàng có những đốm máu, nhiều vẫy, ngứa dữ dội, hoặc ngứa nhiều về mùa hạ, kèm có phát sốt, cầu bón kết, tiểu vàng đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Lương huyết thanh nhiệt giải độc.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa bệnh vẩy nến do cảm phải tà độc, Nhiệt tà hun đốt làm tổn thương dinh huyết, làm cho huyết nhiệt độc thịnh phát sinh. Chữa nên thanh nhiệt lương huyết giải độc. Trong bài Sinh địa hoàng có tác dụng lương huyết thanh nhiệt; Xích thược, Tử thảo có tác dụng thanh nhiệt, chỉ huyết vọng hành; Kim ngân hoa thanh nhiệt giải độc; Thổ phục linh, Bạch tiển bì khu phong hóa thấp, trừ sẹo, làm hết ngứa. Các vị cùng dùng có công  dụng, khống chế bệnh tình tiêu trừ chứng trạng, phòng ngừa tái phát.

Bài 2: Nhị sâm trà

Bài thuốc:

Khổ sâm 15g, Đơn sâm 15g, Bạch tiển bì 20g, Thổ phục linh 30g, Sinh địa hoàng 30g, Kê huyết đằng 25g.

Chủ trị:

Chữa bệnh vẫy nến thấy vùng da toàn thân xuất hiện những đốm màu hồng, có chổ thì trông giống như đốm giọt, có chổ thì giống như từng khối, từng mảng, hoặc giống như địa đồ, hay là một khối hổn hợp. bề mặt của những chổ này có nhiều lớp vảy màu trắng bạc, dể bị bong tróc. Sau khi bong tróc có những đốm giống như xuất huyết, vùng da bệnh không ngừng xuất hiện, kèm theo ngứa ngáy, hay thấy tâm phiền miệng khát, cầu bón, tiểu đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết khu phong.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Không ăn các thực phẩm có nguồn gốc hải sản, các thức ăn cay, nóng, rượu bia và các chất kích thích khác

Lời bình:

Trong bài Khổ sâm, Thổ Phục linh có tác dụng Thanh nhiệt khử thấp giải độc; Đơn sâm, Kê huyết đằng hoạt huyết hóa ứ, dưỡng huyết nhuận táo; Sinh địa hoàng có tác dụng thanh nhiệt lương huyết; Bạch tiển bì có tác dụng khu phong giải độc chỉ dượng. Các vị hợp lại với nhau vừa có thể tán phong độc ngoài da lại có thể thanh huyết nhiệt bên trong sẽ đạt được hiệu quả là công tà khử tật. Nếu huyết nhiệt thịnh gia Tử thảo 15g, Hòe hoa 20g; kèm có thấp gia Nhân trần 20g; Hoàng bá 15g, Ý dĩ nhân 20g; Huyết ứ nhiều gia Xích thược 15g, Hồng hoa 10g; Nếu bệnh lâu thuộc âm hư huyết táo gia Huyền sâm 20g; Sinh thủ ô 20g.

Bài 3: Nhân bồ trà

Bài thuốc:

Nhân trần 20g, Bồ công anh 20g, Thương truật 15g, Thổ phục linh 30g, Ý dĩ nhân 30g, Xa tiền thảo 20g.

Chủ trị:

Chữa bệnh vảy nến thuộc thấp nhiệt chứng thấy bàn tay, mu bàn chân có mụn mủ, bệnh gia nặng vào những ngày mưa dầm, âm u. Kèm có tức ngực, người lừ đừ, tinh thần mệt mỏi yếu sức, chi dưới nặng nề hoặc tăng nhiều, sắc vàng, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch nhu hoạt.

Công hiệu:

Thanh nhiệt lợi thấp.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang Nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ hư thấp trọng không có nhiệt không dùng bài này. Cử không ăn các loại hải sản, cay nóng, rượu bia và các chất kích thích khác.

Lời bình:

Bài này chữa bệnh vẩy nến do thấp nhiệt uất tích, phát ở cơ phu mà gây ra.Chữa nên thanh nhiệt lợi thấp làm chủ. Trong bài Nhân Trần có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp làm chủ, hổ trợ Bồ công anh thanh nhiệt giải độc táo thấp; Thưong truật, Thổ phục linh, Ý dĩ nhân, Xa tiền thảo có tác dụng kiện tỳ táo thấp lợi thủy, làm cho thấp nhiệt tà theo đường tiểu mà ra ngoài. Các vị cùng dùng có công dùng thanh nhiệt lợi thấp, kèm có phát sốt gia Bản lam căn 30g, Kim ngân hoa 20g.

MỤN TRỨNG CÁ

Bài 1: Thanh phế tiêu tọa trà

Bài thuốc:

Bạch hoa xà thiệt thảo 20g, Tỳ bà diệp 15g,Tang bạch bì 15g, Liên kiều 12g, Sinh địa hoàng 20g, Ý dĩ nhân 30g.

Chủ trị:

Chữa mụn trứng cá do phế nhiệt huyết nhiệt. Chứng thấy trên mặt nổi mụn như trứng cá kèm theo ngứa, nóng rát, đau nhức, tâm phiền, miệng khô khát trong miệng có mùi hôi, lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch sác.

Công hiệu:

Sơ phong thanh phế.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Nên ăn nhiều rau quả, không dùng tay để nặn mụn, không ăn các thức ăn cay nóng, dầu mỡ.

Lời bình:

Y học hiện đại cho rằng mụn trứng cá phát sinh là do rối loạn nội tiết tố, làm cho kích thích tố nam trong tổ chức da tăng cao hoặc độ mẩn cảm của kích thích tố nam đối với tuyến da trong cơ thể tăng cao, tăng tiết tuyến nhờn ở tại vùng da cục bộ. Nang lông, tuyến nhờn bị viêm nhiễm hoặc vách tuyến nhờn, nang lông bị sừng hóa mà gây ra. Y học cổ truyền cho rằng là do huyết nhiệt, huyết ứ, đàm ngưng mà phát sinh bệnh. Bài này dùng chữa bệnh mụn trứng cá do phế kinh có huyết nhiệt mà gây ra. Chữa nên thanh phế lương huyết. Trong bài Bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng Thanh nhiệt giải độc, nghiên cứu của dược lý hiện đại nêu rỏ Bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng điều chỉnh kích thích tố, còn có thể ức chế tuyến nhờn bài tiết, là vị thuốc quan trọng để chữa mụn trứng cá; Tỳ bà diệp, Tang bạch bì có tác dụng thanh phong nhiệt ở phế kinh mà tả hỏa; Sinh địa hoàng, Liên kiều lương huyết thanh nhiệt, tả hỏa giải độc; Ý dĩ nhân lợi thấp bài nùng, có thể ức chế bài tiết tuyến nhờn. Các vị hợp dùng có công dụng thanh phế nhiệt, tiêu mụn trứng cá.

Bài 2: Tiêu đậu trà

Bài thuốc:

Sinh địa 20g, Hạ khô thảo 15g, Bạch hoa xà thiệt thảo 20g, Tạo giác thích 12g, Thổ phục linh 30g, Sơn tra 12g.

Chủ trị:

Chữa mụn trứng cá do nhiệt độc tích kết xuất hiện các chứng mặt nóng bừng, da mặt nổi mụn sưng đỏ đau nhức, đầu mụn có mủ, nặng thì thành ghẻ hóa mủ, cầu bón, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác hoặc huyền sác.

Công hiệu:

Thanh nhiệt giải độc, huyết hoạt tiêu đậu.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Trong bài Bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng thanh nhiệt tuyên phế, giải độc bài nùng; Sinh địa hoàng lương huyết chỉ huyết; Hạ khô thảo thanh nhiệt giải độc, tiêu ung tán kết; Tạo giác thích thanh nhiệt giải độc, tiêu thủng hội kiên bài nùng; Thổ phục linh lợi thấp thanh nhiệt giải độc; Sơn tra phối hợp với Bạch hoa xà thiệt thảo, Ý dĩ nhân ức chế tuyến nhờn tăng tiết. Các vị cùng dùng có công dụng hành huyết ứ, thanh nhiệt độc mà mụn trứng cá tự khỏi.

Bài 3: Bình đậu trà

Bài thuốc:

Sinh địa 30g, Huyền sâm 15g, Mạch môn 12g, Địa cốt bì 15g, Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, Lộc hàm thảo 30g.

Chủ trị:

Chữa mụn trứng cá do âm hư hỏa vượng thấy trên mặt nổi mụn làm chủ, không sưng đỏ và đau nhức nhiều, có thể kèm thấy tâm phiền nhiệt, chất lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác.

Công hiệu:

Dưỡng âm thanh nhiệt.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra 2 lần uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Dương hư, tỳ vị hư hàn không nên dùng bài này.

Lời bình:

Bài này chữa mụn trứng cá do âm hư nội nhiệt, lại do phế kinh huyết nhiệt bốc lên trên mặt mà sinh ra bệnh. Chữa nên dưỡng âm thanh nhiệt. Trong bài Sinh địa hoàng, Huyền sâm,Mạch môn tư âm thanh nhiệt để chữa vào gốc; Địa cốt bì có tác dụng thanh phế, thoái hư nhiệt; Bạch hoa xà thiệt thảo, Bồ công anh, Lộc hàm thảo lợi thấp giải độc, thanh nhiệt tiêu ung, để chữa ngọn. Các vị cùng dùng để tư âm dịch, giáng hư hỏa, thanh phế nhiệt, chữa mụn trứng cá.

BỆNH MŨI ĐỎ

Bài 1: Thanh phế tả vị trà

Bài thuốc:

Tang bạch bì 12g, Hoàng cầm 12g, Mạch môn 15g, Cát căn 20g, Ý dĩ  nhân 30g, Liên kiêu15g, Thạch cao 20g.

Chủ trị:

Chữa bệnh mũi đỏ thuộc phế vị tích nhiệt. Thấy vùng mũi trơn bóng, sắc da đỏ, lâu ngày không giảm, dần dần thấy nổi những sợi chỉ máu, đan thành võng, lổ chân lông thưa hở, hoặc nổi mụn như hạt thóc trên đầu có mủ, kèm theo khát thích uống nước lạnh, miệng hôi hay đói, tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch phù sác.

Công hiệu:

Thanh vị nhiệt, tiết tích nhiệt.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Không để cầu bón, không ăn các vị cay nóng, rượu bia các loại.

Lời bình:

Phế khai khiếu ở mũi, phế kinh uất nhiệt đi lên phế lạc, cho nên thấy mũi đỏ; kinh mạch túc dương minh vị khởi ở mũi trán, men theo bên ngoài mũi cho nên tỳ vị có tích nhiệt, lạc mạch sung đầy, mũi cũng đỏ theo. Bài này chữa lổ mũi đỏ do phế vị tích nhiệt gây ra chữa nên thanh tiết nhiệt ở phế vị. Trong bài Tang bạch bì, Liên kiều có tác dụng sơ phong thanh phế; Hoàng cầm, Thạch cao, Cát căn thanh vị nhiệt, tả phục hỏa ở phế vị; Ý dĩ nhân lợi thấp thanh nhiệt, giải độc bài nùng; Mạch môn ích khí dưỡng âm thanh nhiệt để phù chính. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt mà không làm tổn thương chánh khí, ích khí mà không sợ bị trệ, thanh tả phế vị. Sắc da đỏ gia Mẫu đơn bì 12g, Xích thược 12g, để lương huyết thanh nhiệt. Trên mũi nổi mụn mủ gia Dã cúc hoa 15g, Bồ công anh để giải độc tán kết.

Bài 2: Ngân hoàng trà

Bài thuốc:

Kim ngân hoa 15g, Hoàng cầm 10g, Sinh địa hoàng 20g, Xích thược 12g, Mẫu đơn bì 12g, Liên kiều 10g.

Chủ trị:

Chữa bệnh mũi đỏ bị ứ huyết gây tắt nghẽn. xuất hiện lổ mũi đỏ bầm hoặc tím, nổi ghẻ, sần kết thành khối, lồi lõm không bằng phẳng, thịt thừa mọc như mụn cơm, giống như dương mai, lưỡi ám hoặc có đốm ứ huyết, điểm ứ huyết, mạch sáp huyền.

Công hiệu:

Lương huyết thanh nhiệt. hòa dinh khử ứ.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang, nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Không ăn các thức ăn cay nóng, rượu bia và các chất kích thích khác.

Lời bình:

Trong bài Kim ngân hoa, Liên kiều, Hoàng cầm, có tác dụng thanh nhiệt giải độc; Sinh địa hoàng thanh nhiệt lương huyết, giải độc tiêu thủng; Xích thược, Mẫu đơn bì lương huyết hoạt huyết khử ứ. Các vị cùng dùng có công dụng thanh nhiệt lương huyết, hoạt huyết khử ứ. Ứ trệ nặng gia Đơn sâm15g, Hồng hoa 10g, để hóa ứ tán kết; mũi mọc thịt thừa to lớn gia Mẫu lệ 30g, Hạ khô thảo 15g, dĩ nhuyễn kiên tán kết.

TẠP BỆNH

RƯỢU BIA THUỐC LÁ QUÁ ĐỘ

Bài 1: Thanh yết hộ phế trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 15g, Cúc hoa 15g, Mạch môn 15g, Trà xanh loại tốt 10g.

Chủ trị:

Do hút thuốc quá nhiều trong thời gia dài dẫn đến ho họng khô, miệng hôi mùi thuốc lá, ho khan, miệng khát, chất lưỡi đỏ mạch sác.

Công hiệu:

Thanh yên độc, hộ phế âm.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1~2 thang, trước tiên lấy Thái tử sâm, Mạch môn đổ 3 chén nước sắc còn 2 chén, lúc thuốc còn nóng cho trà xanh, cúc hoa vào hãm uống thay nước trà.

Cấm kỵ:

Cữ bớt lượng thuốc hút, ăn ít các thức ăn cay nóng, chiên xào, tỳ vị hư hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Hút thuốc quá nhiều trong thời gian dài, trong thuốc có chứa Nicotine và các chất độc hại khác xâm nhập vào cơ thể người, đầu tiên xâm phạm phế, lâu ngày thì phế khô âm dịch bị tổn thương. Chữa nên thanh phế dưỡng làm chủ. đồng thời giải độc tố của thuốc. Trong bài Thái tử sâm ích khí dưỡng âm; Mạch môn ích âm nhuận phế, cả 2 vị cùng dùng có tác dụng dưỡng phế hộ phế làm gốc. Cúc hoa có tác dụng thanh can tuyên phế, có thể hoãn giải chất Nicotine thấm nhập vào huyết quản gây co thắt sinh ra đau đầu, trướng đầu, cũng có thể thanh phế do độc tố của thuốc lá mà gây ho;  Trong Trà xanh có chứa nhiều Vitamin C có thể ức chế tế bào ung thư có trong thuốc lá hình thành, đồng thời trong trà cũng có chứa các thành phần của dạng hydroxybenzene, có thể làm cho chất Nicotine có trong thuốc lá trầm lắng và bài tiết ra ngoài cơ thể.

Bài 2: Giải tửu lợi thấp trà

Bài thuốc:

Cát căn 20g, Đạm trúc diệp 10g, Nhân trần 20g, Trạch tả 12g, Trà xanh 10g.

Chủ trị:

Chữa người bình thường vốn ham thích uống rượu làm cho thấp tích hoặc say rượu nằm nơi ẩm thấp xuất hiện chứng đau đầu, tức nặng ngực hoặc nôn ọe, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.

Công hiệu:

Lợi thấp trọc giải tửu độc.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén trước tiên sắc 4 vị thuốc trước còn 1 chén thêm trà xanh vào nấu sôi khoảng 1~2 phút là được.

Cấm kỵ:

Nên uống ít rượu, uống nhiều trà xanh. Thận hư thận trọng khi dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa các chứng bệnh do uống quá nhiều rượu mà phát sinh thấp trệ tích tụ. Chữa nên tỉnh tửu giải độc, lợi thấp hóa trọc. Trong bài dùng Cát căn có vị ngọt mát có tác dụng thanh nhiệt giải tửu độc; Nhân trần thanh can lợi tửu thấp, nâng cao năng lực thay đổi và giải tửu độc của can tạng, Phối hợp với trạch tả để lợi thấp tả độc, đối với tửu thấp vây hãm bên trong, tửu độc làm tổn thương can thì dùng bài này rất thích hợp, lại có thể lợi thủy thấm thấp, làm cho tữu thấp nhiệt độc theo đường tiểu ra ngoài; Trà xanh có tác dụng làm hưng phấn trung khu thần kinh, có tác dụng ức chế đối kháng và hoãn giải độ cồn, giảm nhẹ cảm giác say sau khi uống rượu, thông qua tác dụng lợi tiểu, làm cho độ cồn nhanh chóng bài xuất ra ngoài cơ thể, nhờ đó mà có tác dụng giải rượu. Các vị phối hợp với nhau vừa làm tỉnh rượu lại có thể thanh giải tửu độc. Nếu các triệu chứng thấy chuyển biến chậm có thể lấy hoa Cát căn 5~10g hãm lấy nước uống, cũng có tác dụng giải tửu.

Bài 3: Giải tửu tiêu chỉ trà

Bài thuốc:

Cát căn 20g, Đạm trúc diệp 10g, Nhân trần 20g, Thảo quyết minh 20g, Sơn tra 20g, Hậu phát 10g, Trạch tả 10g, Ý dĩ nhân 20g.

Chủ trị:

Chữa trường kỳ uống rượu mà miệng đắng khô, ngực bụng tức trướng, lâu ngày phát triển to như cái trống (bụng bia), kèm có người bần thần, cầu bón, lưỡi đỏ, rêu vàng dày hoặc vàng nhớt. Mạch nhu sác.

Công hiệu:

Chữa nên giải tửu lợi thấp, tiêu chỉ giáng trọc.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ vị hư hàn không nên dùng bài này.

Lời bình:

Rượu uống vào dạ dày và ruột, lại thêm các chất cay nóng, thơm giòn ngọt béo, làm cho tỳ mất chức năng kiện vận, thấp tửu vây hãm bên trong, thấp nhiệt uất chưng nên mới phát sinh ra bài này để chữa. Trị nên giải tửu lợi thấp, tiêu chỉ giáng trọc. Trong bài Cát căn có tác dụng thanh giải tửu độc; Nhân trần lợi thấp giải độc; Đạm trúc diệp, Ý dĩ nhân lợi thấp giáng trọc, làm cho thấp trọc theo khí hành mà tán ra, khí giáng mà tiêu; Sơn tra tiêu thực hạ mỡ phối với Thảo quyết minh có thể hạ mỡ thông tiện mà giảm béo, làm chậm quá trình hình thành “bụng bia”. Các vị cùng dùng có công dụng làm cho tửu độc hạ theo thấp trọc mà ra ngoài, mỡ bụng giải theo thấp trọc mà tan mỡ bụng.

MỆT MÕI DO HỌC TẬP

Bài 1: Thanh tâm ninh thần trà

Bài thuốc:

Mạch môn 20g, Bách hợp 20g, Bá tử nhân 15g, Mật táo 3 trái.

Chủ trị:

Chữa chứng mệt mõi do học tập dẫn đến trí nhớ giảm sút, tâm phiền, miệng khát, đêm ngủ không yên, lưỡi đỏ, mạch tế sác.

Công hiệu:

Thanh tâm ninh thần.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Tiêu chảy do tỳ hư không nên dùng bài này.

Lời bình:

Tâm chủ thần chí tâm thần là hoạt động tư duy ý thức của người. Ký ức, tư duy là công năng hoạt động của tâm thần. Một khi tâm mất chổ dựa sẽ làm ảnh hưởng đến công năng và hoạt động của tâm thần, nên phát sinh ra các chứng trạng kể trên; Chữa nên dưỡng tâm an thần định chí. Trong bài Mạch môn có tác dụng thanh tâm an thần; Bách hợp an tâm ích trí, phối ngẫu với Mạch môn làm dụng, làm tăng hiệu quả thanh tâm an thần, Bá tử nhân không hàn không táo, có công năng dưỡng tâm an thần, là thuốc quan trọng để an thần định chí. Nghiên cứu dược lý của y học hiện đại nêu rõ Bá tử nhân có tác dụng cải thiện trí nhớ trong học tập rất rõ rệt. Các vị cùng dùng vừa thanh tâm an thần, lại vừa cải thiện ký ức học tập. Nếu tâm phiền, đêm ngủ hay mơ mộng có thể gia Đăng tâm hoa 10 cọng, Phục thần 15g, để thanh tâm an thần định chí; thị lực mệt mõi gia Thạch hộc10g, Cúc hoa 15g để thanh can minh mục.

Bài 2: Bạch hoa cát sâm trà

Bài thuốc:

Bạch thược 20g, Cúc hoa 12g, Thái tử sâm 20g.

Chủ trị:

Chữa mệt mõi do học tập kèm thấy can khí uất trệ xuất hiện các triệu chứng như chóng mặt giảm trí nhớ, tinh thần suy sụp, hay thở dài than vãn, ngực sườn không khoan khoái hoặc người bực bội dễ nổi giận, miệng đắng họng khô, mạch huyền sác.

Công hiệu:

Ích khí thanh can.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1thang Nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống sáng chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ hư vị hàn không nên chọn dùng bài này.

Lời bình:

Bài này dùng chữa do tình tự uất kết không thông mà sinh ra các chứng trạng kể trên. Can mất chức năng sơ tiết. Chữa nên sơ can nhu can. Trong bài Bạch thược có vị chua ngọt có tác dụng sơ can, liễm âm, nhu can; Thái tử sâm ích khí để thanh nhiệt; Cúc hoa thanh can minh mục, vừa thanh tiết can nhiệt, lại sơ phong minh mục, có tác dụng hoãn giải nhất định đối với học tập căng thẳng, mõi mắt; Cát căn giải cơ thanh nhiệt có hiệu quả hoãn giải đối với học tập mệt mõi, cổ cứng tay đau. Nghiêm cứu của dược lý hiện đại nêu rõ Cát căn có công năng nâng cao trí nhớ. Các vị hợp dùng có công dụng làm cho can khí được lưu thông mà tính tình bình phục, thanh can nhiệt mà tỉnh não sáng mắt.

LÀM VIỆC LÂU BÊN MÁY TÍNH

Bài 1: Cốc mộc hoa thảo trà

Bài thuốc:

Cốc tinh thảo 12g, Mộc tặc 12g, Cúc hoa 20g, Hạ khô thảo 15g.

Chủ trị:

Chữa mắt có bệnh do làm việc nhiều bên máy tính, xuất hiện mắt mờ, thậm chí hoa mắt, ngứa mắt, tròng trắng có hiện tượng sung huyết hoặc sợ ánh sáng, mõi mắt, lưỡi đỏ, rêu ít hoặc vàng, mạch sác.

Công hiệu:

Thanh can minh mục.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang thêm đường phèn hoặc mật táo nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; Nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia làm 2 lần uống.

Cấm kỵ:

Can huyết hư nhìn vật mờ hoa thì không dùng bài này.

Lời bình:

Sử dụng máy vi tính rong thời gian dài, tia bức xạ và màn hình nhấp nháy làm cho mắt dễ bị mõi mà xuất hiện các chứng trạng kể trên. Nhẹ thì thông qua nghỉ ngơi và nháy mắt thì các chứng tự khỏi; Nếu chứng trạng nghiêm trọng thì uống bài này để thanh nhiệt minh mục, bảo vệ mắt. Trong bài Cốc tinh thảo, Mộc tặc có thể sơ phong thanh nhiệt, minh mục thoái ế; Cúc hoa, Hạ khô thảo thanh can nhiệt, sơ can hỏa mà làm sáng mắt. Các vị cùng dùng có hiệu quả thanh can minh mục. Bài này dùng chữa các bệnh về mắt do sử dụng máy vi tính qúa lâu, cũng có thể dùng trà này trong thời gian dài để bảo vệ mắt.

Bài 2: Sâm mạch bách hoa trà

Bài thuốc:

Thái tử sâm 15g, Mạch môn 15g, Bách hợp 20g, Bạch thược 20g, Cúc hoa 15g.

Chủ trị:

Chữa do sử dụng máy vi tính trong thời gian dài phát sinh tinh thần mệt mõi, não trướng, miệng khô, phiền táo, hoa mắt, nhìn vật không rõ.

Công hiệu:

Ích khí ninh thần, tỉnh não minh mục.

Cách dùng:

Mỗi ngày 1 thang thêm đường phèn hay mật táo. Nước đầu đổ 3 chén sắc còn 1 chén; nước nhì đổ 2 chén sắc còn ½ chén chia ra uống 2 lần sáng và chiều.

Cấm kỵ:

Tỳ hư vị hàn không nên chọn dùng bài này. Uống nhiều nước, ăn ít các thức ăn chiên xào.

Lời bình:

Trong bài Thái tử sâm có tác dụng ích khí dưỡng âm; Mạch môn có tác dụng thanh tâm tả hỏa; Bạch thược có tác dụng dưỡng âm hộ can; Bách hợp có tác dụng thanh phế mà an thần; Cúc hoa có tác dụng tỉnh não mà sáng mắt. Các vị cùng dùng có tác dụng ích khí ninh thần, tỉnh não minh mục.

HẾT

 

Sản phẩm liên quan
Chia sẻ:
Bài viết khác
Go Top